Tác động của Phật giáo đến đời sống tinh thần người dân Anh Quốc ~(PHẦN 2)

185

《HĐ》Qua những dấu ấn Phật giáo trên, có thể thấy đây chỉ là những bước đổ bộ đầu tiên, làm tiền đề cho Phật giáo chính thức du nhập vào Anh. Thật vậy, đến năm 1879 với sự ra đời thi phẩm Ánh sáng Á châu (The Light of Asia) của Edwin Arnold đánh dấu chính thức Phật giáo du nhập vào Anh từ hậu bán thế kỷ XIX. Kể từ đó, Phật giáo bắt đầu chuyển bánh xe pháp tại Anh quốc, mở ra chân trời mới cho các học giả phương Tây tìm hiểu và đến với đạo Phật. Phật giáo đã chính thức lan tỏa như mạch nước ngầm chảy vào đời sống tâm thức của người dân Anh quốc, nhất là tầng lớp trí thức Anh. Trong đó, nổi bật là sự đóng góp của các học giả đã gieo hạt giống Bồ đề cho vườn hoa Phật giáo Anh quốc nói riêng và Phật giáo Châu Âu nói chung được phát triển.

Không ai khác, chính Edwin Arnold bằng sự tài hoa và khéo léo của mình đã đưa Phật giáo đến với người dân Anh quốc mà trước hết là giới học giả phương Tây bấy giờ. Vào thời điểm hậu bán thế kỷ XIX, khi mà Phật giáo còn khá xa lạ với người Âu Mỹ, hầu hết các bản Kinh Phật bằng các cổ ngữ Pāli, Sanskrit khó có thể phổ cập Phật giáo tại Anh.Trong khi các bản Kinh bằng Anh ngữ còn khá khan hiếm, thì đúng lúc này thi phẩm Ánh sáng Á châu ra đời như một tiếng chuông khai đạo, đánh dấu Phật giáo có mặt trên đất nước Anh. Thi phẩm xuất bản đầu tiên năm 1879 bằng ngôn ngữ Anh, như sức hút nam châm đã lôi cuốn các học giả phương Tây tìm đến và say mê trong những vần thơ qua ngòi bút tài hoa của tác giả. Có thể nói: “Edwin Arnold đã mang lại món quà pháp bảo quý báu, góp phần quan trọng trong sự truyền bá Phật giáo tại các nước phương Tây”. Thật vậy, tác giả đã tài tình khi khéo léo sử dụng chính loại ngôn ngữ bản địa làm bàn đạp thăng hoa, đưa thi phẩm mở đường cho văn hóa Phật giáo chính thức đến với người dân Anh quốc bấy giờ. Điểm nổi bật trong thi phẩm phải kể đến là tấm gương về cuộc đời và đạo nghiệp của Đức Phật từ lúc đản sanh đến khi nhập Niết bàn đã được tái hiện một cách sinh động, đầy tình cảm, cuốn hút độc giả dõi theo.

Không dừng lại ở đó, thi phẩm nhanh chóng lan tỏa và được phổ biến rộng rãi nhất so với các tác phẩm viết về Phật giáo lúc này. Thi phẩm đã tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của người dân Anh, đặc biệt là giới trí thức học giả phương Tây, sức ảnh hưởng của nó làm cho các tín đồ Thiên Chúa giáo phải dè chừng và gọi bằng cái tên “Sự đe dọa của Phật giáo” (The Buddhist Menace). Sự thành công của thi phẩm đạt đến cao trào vào những năm 1884-1885, khi được xuất bản nhiều lần và Phật tử khắp nơi trên thế giới tìm đọc. Quả thật, tác giả Edwin Arnold và thi phẩm Ánh sáng Á châu đã thật sự độc tôn trên con đường truyền bá Phật giáo tại Anh, đến nỗi các học giả phải so sánh Edwin Arnold với các thi hào nổi tiếng của Anh như Rossetti (1830-1894), Swinburne (1837-1909) và Phật tử gán cho ông mệnh danh “Nhà vô địch truyền bá đạo Phật” lúc bấy giờ. Vậy điều gì đã làm nên điều kỳ diệu này?

Trong bài phỏng vấn “Phật giáo tại Anh hiện nay”, TT. Thích Lệ Nguyên nhận định: “Ở Anh, Thiên Chúa giáo đã có mặt từ rất sớm (khoảng thế kỷ XV-XVI) và trở thành quốc giáo của nước này với khoảng 80% tín đồ. Tuy nhiên, Phật giáo đã có mặt và phát triển tại Anh từ cuối thế kỷ XIX. Đến nay, Phật giáo đã giữ vị trí nhất định trong lòng người dân và xã hội Anh quốc”. Rõ ràng, trong hành trình đến với vùng đất Anh quốc, nơi thủ phủ của Thiên Chúa giáo, Phật giáo khi vừa đặt chân đến Châu Âu (1844) đã nhanh chóng bén rễ và bám sâu vào lòng đất Anh quốc. Để rồi gióng lên hồi chuông nơi xóm đạo, đánh dấu Phật giáo đã có mặt qua sự tiên phong, đóng góp tích cực của học giả Edwin Arnold cho Phật giáo Anh quốc.

Edwin Arnold (1832-1904) sinh ra và trưởng thành tại Đông Nam Anh quốc. Ngay từ nhỏ, ông đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo từ khi tìm đọc các sách về Phật giáo của các Phật tử gởi tặng. Điều này đã khơi dậy, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của Arnold sau này. Tuy nhiên, con đường đến với Phật giáo của Edwin Arnold không dừng ở đó, dấu mốc lịch sử năm 1857, khi ông cùng gia đình sang Ấn Độ nhận chức Viện trưởng Đại học Deccan ở Poona, miền Tây Ấn. Kể từ đó, bước ngoặt sự nghiệp của Edwin Arnold rẽ sang hướng mới, trong thời gian sống tại Ấn Độ “đã giúp ông rất nhiều trong sự phát triển tinh thần, văn chương cũng như lòng tôn kính các đạo giáo phương Đông mà chúng đã ảnh hưởng sâu xa đến văn nghiệp sau này của ông”. Đến khi trở lại Anh năm 1861, từ đây ông bắt đầu tích cực hoạt động, tham gia nhiều công việc như làm chủ bút cho tờ nhật báo “Điện tín hằng ngày”, khi thì làm nhà khảo cổ học để khai quật các di tích cổ, ông còn thích nghiên cứu về khoa học, chính trị và kết thân với nhiều học giả nổi tiếng ở khắp nơi. Có thể nói, Edwin Arnold đã hóa thân thành nhiều nhân vật khác nhau, một con người đa dạng và tài ba: “Edwin Arnold đi khắp nơi, học các thứ tiếng, đọc mọi điều và viết đủ loại; hôm nay là ký giả thuần túy, ngày mai là tư tưởng gia, bữa nọ lại trở thành nhà thơ…” Dấu ấn trong sự nghiệp của ông chính là sự ra đời của thi phẩm Ánh sáng Á châu, cũng chính từ đây, ông bắt đầu đóng góp cho các hoạt động Phật giáo. Edwin Arnold đã đến chiêm bái các Thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ, bắt đầu thuyết giảng giáo lý Phật Đà ở các nước Nam truyền Phật giáo như Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan… Ngoài ra, ông còn phối hợp cùng với Đại đức Dharmapala đấu tranh giành lại chủ quyền cho Thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya).

Đỉnh điểm trong sự nghiệp của ppng gắn liền với thành công vang dội của thi phẩm “The Light of Asia”. Người viết nhận thấy, có lẽ chính thời gian sống tại Ấn Độ, với tính cách trong con người đã đưa đường dẫn lối Ông gõ cửa đạo Phật, tìm thấy nhận cách sống qua tấm gương của Đức Phật để thôi thúc ông cho ra đời một thi phẩm tuyệt vời. Chỉ có đức tin mạnh mẽ với đời sống tinh thần hướng đạo đã giúp ông viết nên thi phẩm bất hủ như thế! Đến nay, dù trải qua gần 150 năm nhưng tên tuổi của ông và giá trị của thi phẩm vẫn tồn tại với thời gian, tiếp tục được xuất bản và dựng thành phim được nhiều thế hệ đón nhận. Ông xứng đáng là người tiên phong, dựng nên bức tường thành Phật giáo tồn tại cho đến ngày nay tại Vương quốc Anh.

Kể từ giai đoạn Edwin Arnold với sự truyền bá giáo lý Phật Đà qua thi phẩm bất hủ, đã đưa người dân phương Tây mà trước hết là giới trí thức học giả đến với đạo Phật. Người viết nhận thấy, buổi đầu Phật giáo du nhập vào các nước châu Âu thông qua các học giả nghiên cứu Phật giáo bằng những Kinh sách tiếng Pāli, Phạn ngữ. Họ là những học giả, dù là Phật tử hay không nhưng họ đến với đạo Phật nhiều mục đích khác nhau, nhiều xu hướng khác nhau. Chung quy, Phật giáo đã nhiếp phục được họ. Đúng như nhận định: “Các học giả có xu hướng canh tân, thích tìm tòi, nghiên cứu và biên khảo nên những tác phẩm có giá trị đóng góp cho trí thức nhân loại…Điều này có thể nhận thấy, tương lai của Phật giáo phát triển thuận lợi.”

Một trong những nhân vật được Phật giáo thâu phục phải kể đến là học giả T.W. Rhys Davids (1843-1922). Ông là một Giáo sư với bốn bằng tiến sĩ. Ông theo học tiếng Sanskrit với Giáo sư Stenzler tại trường Đại học Breslau ở Đức. Năm 1864, ông được bổ nhiệm giữ chức Dân sự tại Tích Lan, nhờ có sẵn kiến thức về ngôn ngữ, ông đã dễ dàng nghiên cứu hai thứ tiếng Tamil và Sinhalese, nhân cơ hội ông giữ chức Thẩm phán tại Tích Lan để xét xử vụ kiện tụng liên quan đến ngôi chùa làng, trong đó liên quan đến giới luật Phật giáo. Tuy nhiên, các văn kiện trình bày lại viết bằng tiếng ngôn ngữ địa phương mà không một ai đọc được. Chính điều này đã khiến ông theo học tiếng Pāli với nhà Sư Phật giáo Yatramulle Unnanse và từ đó, ông sao chép các bản Kinh Phật, bắt đầu nghiên cứu Phật giáo.

Rõ ràng, chính trong thời gian làm Thẩm phán, việc xét xử vấn đề liên quan đến giới luật Phật giáo, đã thôi thúc Ông nghiên cứu ngôn ngữ bản địa (Pāli). Điều này về sau cũng được nữ học giả I.B. Horner (1896-1981) nhắc đến: “Tài liệu trên gồm có đoạn trích dẫn từ Luật tạng và chính điều ấy khiến cho Rhys Davids quyết tâm nghiên cứu về thứ tiếng xa lạ này.” Đây chính là động cơ chủ yếu, tác động trực tiếp đưa Rhys Davids đến với Phật giáo. Tất nhiên, từ sự không hiểu đi đến sự hứng thú kỳ lạ của thứ ngôn ngữ bản địa đã đưa ông đến với Phật giáo một cách bình dị nhất có thể. Càng nghiên cứu càng say mê, một sức hút kỳ diệu đã giúp ông ý thức rằng: Phải tìm hiểu về lịch sử Phật giáo qua thánh ngữ Pāli. Chính điều này đã giúp ông có những đóng góp to lớn cho Phật giáo Anh về sau.

Sau khi trở về Anh, ông tiếp tục làm Giáo sư giảng dạy các trường Đại học ở Anh và Hoa kỳ. Quá trình đóng góp của ông cho Phật giáo chính là sự ra đời của Hội Phiên dịch Thánh điển Pāli (The Pāli Text Society) năm 1881 ở Anh, ông đã vận động giới học giả châu Âu tham gia vào công tác nghiên cứu, dịch thuật và phát hành Kinh điển Pāli bằng tiếng Anh. Rhys Davids đã gắn bó với Hội trong 41 năm. Không dừng lại ở đó, công trình đóng góp Phật giáo của ông thật vĩ đại. Ông đã phiên dịch, trước tác, khảo cứu với hơn 20 tác phẩm, cộng tác với nhiều học giả nổi tiếng như Childers, Fausboll, William Stede… để xuất bản những tác phẩm Phật giáo có giá trị. Trong đó, phải kể đến hai tác phẩm: Phật giáo (1896) và Ấn Độ Phật giáo (1903). Năm 1882, ông được mời làm Giáo sư dạy Pāli và văn học Phật giáo ở Luân Đôn. Ngoài ra, ông còn tích cực hoạt động, đồng sáng lập các hội đoàn để truyền bá Phật giáo như: Hội Phật giáo Anh quốc và Ái Nhĩ Lan (1907), Viện Hàn lâm Anh quốc, trường Nghiên cứu phương Đông và châu Phi. Sự cống hiến của ông dành cho Phật giáo không ngừng nghỉ. Vào những năm cuối đời, ông vẫn cùng học giả William Stede biên soạn cuốn Từ điển Pāli-Anh (xuất bản phần đầu năm 1921) trước khi ông qua đời.

Qua đó cho thấy, những hoạt động của Rhys Davids là cả một công trình đóng góp vĩ đại cho sự truyền bá, phát triển Phật giáo tại phương Tây. Nếu như trong quá khứ, ở Trung Hoa, Tây Tạng có những đại Pháp sư danh tiếng như Ngài Huyền Trang, Cưu Ma La Thập, Thon-mi Sambhora đã phiên dịch Thánh điển từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, tiếng Tây Tạng thì thời cận đại có học giả Phật tử Rhys Davids đã phiên dịch Kinh tạng từ tiếng Pāli ra Anh ngữ. Chính sự ra đi của ông đã để lại tổn thất tinh thần to lớn đối với Phật giáo Anh quốc và toàn Phật tử khắp nơi trên thế giới. Giá trị và ý nghĩa to lớn của sự cống hiến trọn đời của Rhys Davids đã được cả thế giới công nhận. Đúng như Giáo sư người Nhật Tachibana khẳng định: “Giáo sư Rhys Davids đã dành hết phần lớn đời mình vào sự truyền bá Phật giáo ở phương Tây… Sự đóng góp của ông thật to lớn hơn bất cứ học giả nào khác.”

Đến đây, ánh sáng Phật giáo đã chiếu khắp bầu trời Anh và tiếp tục lan tỏa khắp vùng trời phương Tây. Để cho Phật giáo được bám rễ và thấm sâu vào đời sống tinh thần của người dân thì Phật giáo phải có phương tiện hoằng truyền khế hợp. Vì lẽ đó, Tam tạng Thánh điển của Phật giáo xuất phát từ những cổ ngữ Pāli và Sanskrit phải được phiên dịch sang ngôn ngữ phổ quát để rộng truyền đến quảng đại quần chúng Phật tử khắp thế giới, không riêng gì giới trí thức. Trước yêu cầu đó, Phật giáo Anh quốc đã bắt đầu xuất hiện những người dân bản xứ đến với Phật giáo và truyền bá giáo lý Phật Đà thông qua công trình dịch thuật sang ngôn ngữ tiếng Anh phổ biến. Một trong những học giả góp công to lớn mà người viết muốn nhắc đến chính là I.B. Horner. Nói đến đây, làm cho người viết nhớ lại thời Phật còn tại thế, Đức Phật đi đến đâu Ngài sử dụng ngôn ngữ địa phương đó để thuyết giáo. Trong Văn học Sử Phật giáo của mình, Cao Hữu Đính nhận định: “Theo các tạng Luật xưa nhất được Luận Tỳ Bà Sa trích dẫn lại… Phật giảng dạy các Thánh đế bằng ngôn ngữ thông dụng của từng địa phương. Với tín đồ ở Vương Xá, Ngài nói tiếng nước Ma Kiệt Đà; với tín đồ ở Xá Vệ, Ngài nói tiếng Kiều Tát La; tín đồ ở Tỳ Xá Ly, Ngài nói tiếng nước Bạt Kỳ… Các thứ tiếng này được xem như những chủng loại sai khác của Thánh ngữ (Arya-vac).” Như vậy, căn cứ vào Luận Đại Tỳ Bà Sa của Tôn giả Thế Hữu, các nhà nghiên cứu đã kết luận: Đức Phật nói tiếng địa phương. Đi đến xứ nào, Phật nói ngôn ngữ của xứ đó. Có thể xem Đức Phật như một nhà ngôn ngữ học kiệt xuất.

Nói về nữ học giả I.B. Horner (1896-1981), bà sinh tại Anh quốc trong gia đình quý tộc. Ngay từ thuở nhỏ, lúc 12 tuổi, một cơ duyên đã đưa bà đến với Phật giáo, bà kể rằng: “…Tôi thường được nghe bà ngoại tôi và người bà con của bà (người này là bạn của Giáo sư Rhys Davids) trao đổi, thảo luận về Phật giáo. Lúc tôi 12 tuổi, nhiều lần tôi có dịp học hỏi, tìm hiểu về giáo lý Đức Phật với ông bà Rhys Davids, là những học giả uyên thâm về Phật giáo. Cho nên, có thể nói, tôi đã sinh ra trong môi trường được thấm nhuần tư tưởng của Phật giáo.” Có thể thấy, đây chính là động cơ đưa bà đến với Phật giáo ngay từ nhỏ. Kể từ đó, ngoài thời gian làm việc, chắc có lẽ bà dành phần lớn để tìm hiểu và nghiên cứu Phật giáo.

Trước khi chính thức nghiên cứu Phật giáo, bà học tập và làm việc tại trường Newnham College qua chức vụ quản thủ thư viện và hội viên trường. Đến năm 1936, bà bắt đầu nghiên cứu về Thánh ngữ Pāli của Phật giáo Nam tông, sau khi đọc quyển Kinh Pháp Cú (Dhammapada) do học giả người Hoa Kỳ J. Saunders giới thiệu. Sau đó, từ năm 1942-1958, bà được mời làm Tổng Thư ký cho Hội phiên dịch Kinh tạng Thánh ngữ Pāli do Giáo sư Rhys Davids thành lập tại Luân Đôn (1881). Kế thừa sự nghiệp của Rhys Davids và William F.Stede, bà giữ chức Hội trưởng Hội Phiên dịch với sự cộng tác của các vị Giáo sư nổi tiếng là H. Bailey và E. Iggleden. Bà cũng từng giữ chức vụ Phó Hội trưởng Hội Phật giáo tại Luân Đôn (thành lập năm 1924) và đặc biệt, bà đã phát tâm cúng dường đất xây chùa Phật giáo Luân Đôn năm 1954. Không những thế, bà còn góp công biên soạn cuốn Từ điển Pāli-Anh, viết nhiều sách báo Phật giáo để truyền tải giáo lý đến với người dân phương Tây hiểu biết sâu hơn về đạo Phật. Với khả năng tuyệt vời trong công tác nghiên cứu Phật giáo, bà I.B. Horner đã đi đến các nước Phật giáo Nam truyền như Tích Lan, Ấn Độ, Miến Điện để thuyết giảng giáo lý Phật Đà cho dân chúng địa phương và viết bài đăng trên tạp chí Phật giáo Anh ngữ phát hành tại các quốc gia này.

Nhắc đến công trình đóng góp của bà I.B. Horner cho nền văn học Phật giáo, có thể nói bà là một nữ học giả đặc biệt thông minh, với bộ óc phi thường để có thể vừa nghiên cứu vừa phiên dịch Kinh tạng Phật giáo Nam truyền trong suốt thời gian 40 năm. Quả thật, bà là hiện thân của con người mà tuổi tác không làm suy giảm sức mạnh tinh thần! Công trình nghiên cứu, dịch thuật, trước tác của bà quả thật vĩ đại trong con người nhiệt huyết phi thường. Người viết nhận thấy, điểm chung của các học giả trí thức phương Tây sau khi đến với Phật giáo là họ đều dùng trí tuệ và tài năng của mình thông qua ngòi bút để truyền bá Phật giáo. Với quan điểm “lấy báo chí làm bàn đạp”, các học giả đã không ngừng tham gia hoạt động trong các hội, đoàn, viết sách báo làm phương tiện chính để truyền tải giáo lý đến với độc giả trời Tây. Cuộc đời sau này của nữ học giả I.B. Horner không thấy đề cập đến việc bà xuất gia tu Phật, trở thành vị Tỳ kheo ni xuất chúng trong các tài liệu mà người viết có được. Tuy nhiên, một điều có thể chắc chắn rằng, bà I.B. Horner là một vị đại Hộ pháp tiên phong, đắc lực cho phong trào học Phật ở phương Tây. Đóng góp của bà là tấm gương điển hình cho giới nữ (Tu sĩ và cư sĩ) hướng đến, bà xứng đáng sáng ngang với các học giả khác. Ngày nay, Viện Hàn lâm Anh quốc, nơi chứa đựng Tam tạng Thánh điển bằng tiếng Anh dịch ra từ Pāli, đây được xem là “Kho tàng Pháp bảo” vô giá của Vương quốc Anh nói riêng và nhân loại nói chung. Nơi đó có công đóng góp của nữ học giả I.B. Horner của chúng ta.

Nhìn chung, thời kỳ đầu các học giả đến với Phật giáo ở Anh, đa số đều là những viên chức của chính phủ Anh, làm việc ở các nước thuộc địa châu Á. Bằng cách này hay cách khác, sự tiếp xúc Phật giáo không gặp nhiều cản trở, khó khăn. Những công trình trước tác, phiên dịch, khảo cứu của các học giả có giá trị và ý nghĩa sâu sắc, vượt thời gian xứng tầm thời đại. Có thể nói, nhờ vào các học giả, Phật giáo đã trở thành một tôn giáo được đón nhận tích cực ở phương Tây. Người viết nhận thấy, hoạt động truyền bá Phật giáo nên bắt đầu bằng việc thành lập các Hội Phật giáo để lôi cuốn các học giả tham gia và gây ảnh hưởng đến quần chúng. Tất cả đều cùng mục đích chung là phổ biến và truyền bá giáo lý Phật Đà. Chính những điều này đã từng bước thấm dần, dễ dàng đi vào tâm địa của nhân sanh, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần để rồi chính thức nở hoa, kết trái trên đất nước Anh (Sự kiện Ngài Ananda Metteyya chính thức xuất gia, thọ giới Tỳ kheo năm 1902). Phật giáo từ đó được truyền bá rộng rãi, như nước thấm vào lòng đất đến với người dân phương Tây.

Minh Tuệ
Tăng sinh khóa XI, HVPGVN tại TP.HCM

Chia sẻ
Tin trướcĐại thừa
Tin kế tiếpTiểu Bộ Kinh Bāhiya Sutta