Sinh hoạt thiền là một tách trà

101

 Có một vị khách đến hỏi Thiền sư: “Thiền là gì?” Thiền sư liền cầm bình rót trà vào tách của khách. Một thoáng, tách đầy nước tràn ra ngoài. Thiền sư dường như không để ý, vẫn tiếp tục rót. Khách đưa mắt đăm đăm nhìn tách trà, nước không ngừng tràn ra ngoài, đến khi không thể im lặng được nữa, cuối cùng nín không nổi, khách liền nói: “Trà đã tràn ly, đừng rót nữa, thưa Thiền sư.”

“Ông giống như cái tách này”, Thiền sư nói, “bên trong chứa đầy những suy nghĩ và quan điểm của ông, nếu cái tách của ông không rỗng, bảo tôi làm thế nào để nói cho ông biết Thiền là gì?”

Khi chúng ta thực hành Thiền, nên để tay lên ngực tự hỏi, cái tách của mình đã rỗng chưa?
Pháp sư Minh Trang (明奘法师) là một Hòa thượng rất thích uống trà. Năm 1995, khi tôi làm một người khách cư trú tại Thiền tự Bách Lâm (柏林禅寺) thì quen thân với Pháp sư. Lúc uống trà với Sư, tôi hỏi: “Đây là trà Triệu Châu phải không?”
Pháp sư mỉm cười, nói: “Những thứ nước mà ông uống trong Thiền tự Bách Lâm, đều là trà Triệu Châu.”

Trên giá kệ của Sư có rất nhiều trà, Lục trà (绿茶), Hồng trà (红茶), Phổ Nhĩ (普洱), Thiết Quan Âm (铁观音)… Trong các loại trà, tôi thích nhất là ba từ “Thiết Quan Âm”. Trà này có một trái tim Bồ tát Quan Âm, tâm bi từ như sắt không thay đổi, tâm bi nguyện như nước cứu giúp sinh linh bá tánh. Đây là loại trà sản xuất tại Phúc Kiến, nhưng được mọi người khắp nơi yêu thích rộng rãi, thật là “ngàn nơi cầu nguyện ngàn nơi ứng, thường làm thuyền bè vượt bến mê.”

Pháp sư hỏi tôi thích uống gì?
– Thiết Quan Âm.
Pháp sư Minh Trang dùng ấm trà điện nấu nước. Sư đem ra một bộ trà cụ: Ấm Tử sa, Trà hải (茶海: Bàn trà, sử dụng loại rễ cây, qua sự gia công kỹ thuật, thích nghi với gia cụ công nghệ truyền thống dân tộc Hán như nấu trà, uống trà), tách Văn hương (闻香杯: của dân gian Hán tộc dùng để ngửi mùi thơm của trà, thưởng thức trà), tách Phẩm Minh (品茗杯: nhỏ mà dài, dùng để nhấm nháp trà ngon)…, để trên khai trà.

Sư lấy ra một hộp trà Thiết Quan Âm, dùng thìa múc một ít để vào trà hà cho tôi thưởng thức (茶荷: một loại dụng cụ pha trà của dân gian Hán tộc, là một trong sáu cách dùng của trà đạo, bằng sành sứ, hình dạng giống như hình bán cầu, để thưởng thức trà khô).
Tách trà này, sắp đi qua môi tôi, cuộn trên lưỡi tôi, đi sâu vào tạng phủ, sâu vào cốt tủy, sâu vào các chi tiết trong cơ thể một cách nhẹ nhàng mà không phí sức, đi sâu vào hơi thở của chúng tôi, và đi sâu vào đời sống của chúng tôi.

Nước đã sôi. Sư lấy trà để vào bình, đổ nước sôi. Sau khi đổ nước vào bình, đậy nắp bình, lắc nhẹ vài dạo, nhanh chóng trút nước ra, gọi là rửa trà, đây là khúc dạo đầu cho việc uống trà. Hai lần nước, gọi là trà được pha đầu tiên. Trà Thiết Quan Âm ngon, có thế pha bảy lần vẫn còn mùi thơm.

Tôi hỏi Sư, Thầy làm thế nào để lý giải sinh hoạt của Thiền? Sư nói: “Đây là tách trà trước mắt. Người học thiền có sáu điểm khởi đầu, tức là Lục Độ (六度), còn gọi là Lục Ba La Mật (六波罗密)”. “Ba La Mật” là tiếng Phạn, Hán dịch “Đáo Bỉ Ngạn” (到彼岸: Đến bờ kia). Lục Độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ. Sáu phương pháp này có thể trợ giúp cho người học Thiền từ cõi tục đến cõi Phật.

Từ trong lời tựa quyển Thiền và Trà (茶与禅) của Y Đằng Cổ Giám (伊藤古鉴) – Nhật Bản do cư sĩ Đông Chí dịch mà Pháp sư Minh Hải giải thích, tôi đã hiểu được trà cũng có Lục độ.
“Gặp nước quên mình, mà thành uống trà, ấy là Bố thí; lá trà ẩn mùi thơm, giống như mùi thơm của giới, là Trì giới; chịu đựng sấy khô, sao chế, lên men, dồn nén, nhào nặn, là Nhẫn nhục; loại trừ tính lười biếng, phấn chấn tinh thần, có ích cho việc suy tư, là Tinh tấn; hòa kính, yên ắng tĩnh mịch, hương vị trà trước sau như một, là Thiền định; thực hành pháp phương tiện, giúp đỡ vô số người, là Trí tuệ”.

Thảo nào, trà trong mắt của Thiền sư, giống như tụ hội cùng chư Bồ tát trong nhà Phật, sự nghiệp mà các vị đó làm tại thế gian là Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ.

Uống trà trong tự viện, nghe Thiền sư nói chuyện, bỏ trà vào bình, giống như Bồ tát lấy đại nguyện: “Tôi không vào địa ngục, ai sẽ vào địa ngục?” làm bước khởi đầu, sau đó “Độ hết chúng sinh, mới chứng quả Bồ Đề, nếu địa ngục vẫn còn tội nhân, thề không thành Phật”. Đến đây, dòng nhiệt huyết cuồn cuộn, toàn thân như dội nước sôi, dùng tâm lợi tha, chịu các nỗi khổ, vẫn không biến đổi mùi hương của nó, như Bồ tát làm hạnh Bố thí rộng khắp.
Trà, cho dù ở trên cành, hay bị hái xuống, đều giữ được màu xanh tươi, không vì cảnh giới bên ngoài mà biến đổi, như Bồ tát nghiêm cẩn Trì giới.

Lá cây trên thế gian này có nghìn trăm loại, duy lá của cây trà có thể tạo ra hương thơm; trước khi trở thành trà, lá của nó đều tươi mới, đó là thời kỳ đẹp nhất trong cuộc sống, vô duyên vô cớ bị con người ngắt, hái, cấu bấm, chịu đựng phơi, sấy, sao, chà, nhào, nặn, nén, sấy khô, sưởi, lên men, dồn ép, ngâm… Trà giống như Bồ tát chịu đựng những chuyện thuận nghịch, im lặng Nhẫn nhục.

Uống trà, có thể giúp những người phàm tục như chúng ta trừ bỏ tính lười biếng mệt mỏi, tinh thần sảng khoái có ích cho thiền định. Trà giống như Bồ tát giúp chúng ta xây dựng tinh thần tinh tấn dũng mãnh. Bất luận lúc nào và bất cứ nơi nào, bất luận người uống trà tốt hay xấu, chỉ cần họ có nhu cầu, thì có thể cung cấp trà cho họ; hòa kính, yên ắng tĩnh mặc, hương vị trà trước sau như một, giống như Bồ tát tu tập Thiền định.
Cho dù trà pha bằng nước nóng, vừa pha vừa uống, hay trà pha trong nước lạnh dần dần cũng biến thành đậm nồng, mùi thơm của trà vẫn y nguyên. Như Bồ tát dùng pháp phương tiện để phổ độ chúng sanh! Dùng trà để nói Thiền, mượn trà nói về vô ngã của Thiền, là một ẩn dụ, là một phương tiện, lại là một loại Trí tuệ, quả thực khiến cho mọi người phản tỉnh ngẫm lại mình.

Đầu tiên, uống trà nghe có vị đắng chát, tiếp đó là ngọt, sau khi uống rồi vẫn còn phảng phất mùi thơm, quá trình này cũng giống như cuộc sống. Chúng ta bao giờ cũng hưởng dụng trà, và từ việc uống trà cảm ngộ được cuộc sống. Nhưng có ai từng nghĩ đến phía sau của tách trà xanh tươi thoảng mùi thơm đó, là con người đã từng lấy tự ngã làm trung tâm, cướp đoạt và làm tổn thương đối với cây trà một cách thô bạo? Cho nên, phải ôm ấp trái tim xấu hổ, trái tim cảm ơn, uống tách trà trước mắt một cách tinh tế.
Khi Pháp sư Minh Trang đổ nước vào bình, sư rất cẩn thận. Sư nói, bài thơ của Tô Thức (苏轼) có câu: “Âm thanh của suối chảy, đều là tướng lưỡi rộng dài của Phật để diễn nói diệu pháp, màu sắc dáng núi nơi đâu cũng đều là Pháp thân thanh tịnh của Như Lai”, nước đúng là có tính Phật.

Nước có thể khai mở trí năng và niềm vui của con người, bởi vì nó lưu động trôi chảy, thích dung hợp mà giàu biến hóa. Khi nước lung linh trong suốt, thanh tú đẹp đẽ, là lúc nó kết thành băng; khi nước dịu dàng mềm mại uyển chuyển, là lúc nó chảy vào các con suối con lạch; khi nước tuyệt vời kỳ diệu không gì bằng là lúc nó bốc lên thành hơi; khi nước ly kỳ rực rỡ ngoạn mục làm rung động lòng người, là lúc nó treo lơ lửng thành thác nước. Nước nhân tư thế mà định hình, khi hội tụ vào sông lớn thì trở thành khí thế hào hùng, lúc chảy vào khe nhỏ thì nhấp nhô, âm thanh du dương trầm bổng. Khi mức nước chênh lệch do độ cao thấp của lòng sông, thì nó vỗ vào đá tung tóe như hạt châu, vỗ vào bờ xoèn xoẹt như xé lụa. Nước lúc thì băng băng như ngựa chạy rung động tóc mai, rung rinh móng sắt, lúc thì nhẹ nhàng bay bay như lụa phất phơ, lúc thì như treo bình đổ trút, đôi khi vòng đi lượn lại trong đầm. Nước là nữ tính, là miên trường, là dịu dàng, là dẻo dai, là hào hùng, là rắn rỏi khí khái.

Cảnh giới cao nhất của việc hành thiện giống như tính cách của nước, ân huệ bao trùm muôn vật mà không tranh danh đoạt lợi. Cho nên, quan sát tính của nước, đồng như chúng ta đang nghển cổ trông chờ được thể hội Thiền cơ trong đời sống.

Nước có đầy đủ tâm từ của Bồ tát, tẩy sạch bụi bẩn mà không oán hận, tưới thấm muôn vật mà không tranh cãi. Nước lưu động là nói đến pháp Vô thường; nước tĩnh tại, là thể hiện sự rộng lớn và thư thái. Một giọt nước, gọi là trích thủy (滴水); nếu giọt nước này trở về trong biển lớn, tuy không cách nào tìm được nó, nhưng làm cho con người hiểu được biển lớn. Giống như sự giác ngộ của mỗi con người, được gọi là Phật tánh; khi trí tuệ của họ dung nhập vào trọn cả pháp giới, khiến họ cảm nhận được, là trọn cả pháp giới.
Nhà Phật cho rằng, thân thể con người do bốn đại đất, nước, lửa, gió hợp thành. Nước trong cơ thể và nước bên ngoài cơ thể, đều giống hệt nhau. Đời sống của nước, luôn luôn gắn liền với mạng vận của tất cả chúng sinh. Nước chính là ta và ta chính là nước.

Mã Minh Bác (马明博) –
Thanh Như (Việt dịch)