Quốc sư Phước Huệ với việc đào tạo Ni giới

72

  1. Lời dẫn

Quốc sư Phước Huệ là một vị danh Tăng của Bình Định nói riêng và của Phật giáo Việt Nam nói chung. Cuộc đời và đạo nghiệp của Hòa thượng đã góp phần làm rạng danh cho miền đất võ trời văn. Ngài xứng đáng là một danh nhân lịch sử – văn hóa của quê hương Bình Định. Trong cuộc đời hành đạo của Hòa thượng Phước Huệ, Ngài luôn xem sự nghiệp đào tạo Tăng tài là nhiệm vụ hàng đầu, nhờ đó mà hàng đệ tử của Ngài có nhiều vị đóng góp lớn, tỏa sáng tài năng lẫn đạo hạnh và nhất là họ đã tiếp nối dòng chảy Phật giáo Việt Nam giai đoạn thời hiện đại với nhiều thăng trầm, biến đổi của lịch sử. Đặc biệt, hai vị danh Ni của miền Trung, miền Nam là Sư trưởng Diệu Không, Sư trưởng Như Thanh được Ngài trực tiếp giảng dạy Kinh điển, truyền thụ những điều uyên thâm từ giáo lý của Đức Phật từ lúc cả hai vị vừa bước vào cửa thiền. Về sau, Sư trưởng Diệu Không và Như Thanh trở thành hai vị Ni tài đức, chân tu thật học, nhất là am hiểu sâu rộng Kinh điển, đồng thời có nhiều đóng góp lớn cho Phật giáo nước nhà. Đặc biệt, Sư trưởng Như Thanh là người vận động thống nhất, tổ chức và lãnh đạo toàn thể Ni giới trong ngôi nhà Ni bộ Nam Việt, sau này là Ni bộ Bắc Tông, trong ba thập kỷ ở miền Nam trước năm 1975.

Cho nên, bài viết này nhằm mục đích góp phần hiểu hơn công hạnh lẫn đạo nghiệp to lớn của Quốc sư Phước Huệ trên phương diện giáo dục, đó là truyền đăng tục diệm, xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển Ni giới Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX.

2. Một nhà giáo dục Phật giáo xuất sắc

Hòa thượng Phước Huệ (1869-1945) thế danh là Nguyễn Tấn Giao, sinh trưởng tại làng Phú Thành, phủ An Nhơn, nay là ấp Phú Thành, xã Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh ra trong một gia đình tin kính Tam bảo, nên mầm Phật pháp đã nảy nở trong tâm ngay từ lúc nhỏ. Vì vậy, năm 12 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia đầu Phật tại chùa Thập Tháp Di Đà (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), thọ giới với Thiền sư Chí Tịnh (Minh Lý) và được ban pháp hiệu Phước Huệ. Một thời gian sau, Ngài tiếp tục học Phật pháp với Thiền sư Châu Long (chùa Tịnh Lâm, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) và Thiền sư Luật Truyền (chùa Từ Quang, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên). Năm 1889, Ngài chính thức đăng đàn thọ Cụ túc giới, chính thức bước vào hàng Tăng bảo để nối truyền mạng mạch Phật pháp. Sau đó, Hòa thượng Phước Huệ tiếp tục tham học với Ngài Luật Truyền và đắc pháp năm 1892. Năm 1894, Hòa thượng được thỉnh làm Trụ trì chùa Phổ Quang (huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Khi Ngài Chí Tịnh viên tịch, Hòa thượng Phước Huệ về lại chùa Thập Tháp – Di Đà thọ tang, chuyên tâm học nội điển với Tăng cang Vạn Thành – Sư huynh của Ngài . Từ đây, Ngài bắt đầu bước vào con đường hành đạo, đem sở học và chí nguyện của mình đóng góp vào sự nghiệp xương minh Phật pháp.

Đạo nghiệp của Hòa thượng Phước Huệ lưu lại cho hậu thế có nhiều nét nổi bật như sau:

– Thứ nhất, Ngài là bậc chân tu thạc đức, giới luật tinh nghiêm, đạo hạnh cao thâm. Cho nên, Hòa thượng Phước Huệ được người dân Bình Định nói riêng cũng như các tỉnh miền Trung nói chung kính nể. Đặc biệt, Hòa thượng được Triều đình Nhà Nguyễn kính trọng. Năm 1901, Ngài được Triều đình ban cho giới đạo độ điệp làm Tăng cang chùa Thập Tháp. Năm 1908, Triều đình thỉnh Ngài về kinh đô Huế thuyết pháp cho hoàng tộc trong cung. Nhiều lần, các vị vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định mời vào cung giảng đạo. Vì thế, Hòa thượng được Triều đình và nhân dân tôn xưng danh hiệu Quốc sư.

– Thứ hai, Hòa thượng Phước Huệ có nhiều đóng góp rất lớn vào sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp của Đức Phật bằng tài năng, trí tuệ của mình. Cụ thể, năm 1932, Quốc sư Phước Huệ cùng nhiều vị cao Tăng, cư sĩ đất thần kinh đứng ra xin Triều đình thành lập An Nam Phật Học Hội và xuất bản tờ báo Viên Âm – cơ quan ngôn luận của tổ chức này. Tổ chức An Nam Phật Học Hội có nhiệm vụ cổ xúy cho Phong trào chấn hưng Phật giáo đang lan tỏa, sôi động trên cả nước thời bấy giờ. Đồng thời, đây cũng là lá cờ đầu của phong trào này tại miền Trung. Thiền sư Giác Tiên, vị Trụ trì hai ngôi chùa nổi tiếng ở Huế là Trúc Lâm và Diệu Đế, chứng minh đạo sư An Nam Phật Học Hội rất tôn kính và đã nhiều lần tham vấn ý kiến Quốc sư Phước Huệ. Điều này cho thấy vị trí, vai trò của Hòa thượng đối với tổ chức này là rất lớn.

– Thứ ba, một nét đặc biệt, nổi bật trong đạo nghiệp của Quốc sư Phước Huệ chính là sự nghiệp truyền đăng tục diệm. Ngài đã trực tiếp đào tạo các vị Tăng Ni tài đức, góp phần vào việc duy trì, phát triển mạng mạch Phật pháp trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Nhiều vị danh Tăng, nhà lãnh đạo Phật giáo sau này được hàm thụ kiến thức uyên thâm, thông tuệ từ Quốc sư Phước Huệ. Sách Việt Nam Phật giáo Sử Luận ghi rõ: Năm 1929, sau khi trùng tu chùa Trúc Lâm, Hòa thượng Giác Tiên mở Phật học đường tại đây và vào Bình Định thỉnh mời Quốc sư Phước Huệ ra làm chủ giảng. Từ đó, năm nào Ngài Phước Huệ cũng được thỉnh về chùa Trúc Lâm để giảng huấn. Các đệ tử của Hòa thượng Giác Tiên là Mật Khế, Mật Hiện, Mật Hiển, Mật Thể đều được theo học và đóng vai trò quan trọng trong phong trào chấn hưng sau này. Bác sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám, vị Hội trưởng An Nam Phật Học Hội, cũng là một thành viên tham gia lớp học tại Phật học đường Trúc Lâm. Điều này cho thấy, Quốc sư Phước Huệ là một vị thông bác Kinh điển thuộc loại bậc nhất, sở hữu uy tín đặc biệt và có tầm ảnh hưởng đối với tầng lớp quý tộc, Tăng sĩ, trí thức ở kinh đô Huế thời bấy giờ. Sau này, An Nam Phật Học Hội tiếp tục mở một lớp đại học, một lớp trung học tại chùa Trúc Lâm vào năm 1935. Hòa thượng Phước Huệ phụ trách làm đốc giáo giảng dạy cả hai lớp này. Một số học Tăng miền Nam ra Huế tham gia lớp trung học có: Thiện Hòa, Hiển Thụy, Hiển Không, Thiện Hoa, Chí Thiện,… Trước đó, năm 1920, hai vị Tăng trẻ ở Huế là Mật Khế và Đôn Hậu cũng đã đi vào chùa Thập Tháp – Di Đà (Bình Định) tham gia lớp học do Quốc sư Phước Huệ khai mở. Như vậy, các bậc danh Tăng và nhiều vị tôn túc lãnh đạo Phật giáo Việt Nam thời hiện đại như: Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Mật Thể, Hòa thượng Mật Hiển, Hòa thượng Đôn Hậu, Hòa thượng Thiện Siêu, Hòa thượng Trí Thủ,… từng là những học Tăng của Hòa thượng Phước Huệ. Năm 1937, Quốc sư Phước Huệ được cung thỉnh làm Trụ trì ngôi chùa Thập Tháp – Di Đà sau khi Ngài Tăng cang Vạn Thành viên tịch. Từ đó, vì lý do sức khỏe, Hòa thượng ở hẳn quê hương Bình Định, vừa làm Đốc giáo cho Phật học đường Trung đẳng tại chùa Long Khánh vừa đứng ra trùng tu ngôi Tổ đình Thập Tháp – Di Đà khang trang, khai sơn ngôi chùa Phước Long (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Tiếp tục, ngôi Phật học đường Long Khánh có nhiều học Tăng từ Huế và nhiều vị từ Nam do Hội Phật Học Lưỡng Xuyên gửi ra để được thọ giáo nội điển với Ngài. Tất cả đã chứng minh rằng, Quốc sư Phước Huệ là một nhà Phật học thâm sâu nội điển, một nhà giáo dục Phật giáo xuất sắc thời hiện đại. Hòa thượng xứng đáng nhận được lời ca ngợi:

“Khả năng giáo hóa của Phước Huệ rất vĩ đại, vì vậy người đương thời đã tặng cho ông mỹ hiệu Phật pháp thiên lý câu, nghĩa là con ngựa ngàn dặm của Phật pháp.”
Tháng Giêng năm Ất Dậu (1945), Quốc sư Phước Huệ viên tịch tại Tổ đình Thập Tháp – Di Đà, thọ 76 tuổi và 46 hạ lạp trong niềm kính tiếc của các thế hệ đồ chúng từ Trung đến Nam. Về sau, năm 1970, để tưởng nhớ công đức của Ngài, ngôi Phật học viện được thành lập tại Tổ đình Thập Tháp – Di Đà được mang pháp hiệu của Ngài: Phật học viện Phước Huệ. Hiện nay, ngôi tháp của Hòa thượng Phước Huệ uy nghiêm tọa lạc trong khuôn viên ngôi Tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định.

Như vậy, qua đạo nghiệp của Quốc sư Phước Huệ cho thấy cuộc đời của Ngài hướng luôn gắn với mục đích tối hậu của người học Phật là Duy tuệ thị nghiệp để tiến tu giải thoát, làm gương cho hàng hậu học. Đồng thời, Hòa thượng Phước Huệ trở thành một vị danh Tăng của Phật giáo nước ta, một niềm tự hào lớn của Phật giáo Bình Định ngày nay.

3. Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng

Không chỉ đào tạo Tăng tài, như một nhân duyên lớn, Quốc sư Phước Huệ trực tiếp hướng dẫn nội điển, giảng dạy Kinh tạng Đại thừa cho Sư trưởng Diệu Không (1905-1997) và Như Thanh (1911-1999) trong giai đoạn cả hai mới vừa bắt đầu học Phật. Về sau, Sư trưởng Diệu Không trở thành bậc long tượng của Ni bộ Thừa Thiên – Huế, còn Sư trưởng Như Thanh được ví như ngôi sao Bắc đẩu của Ni giới Việt Nam, người đứng đầu Ni bộ Nam Việt, Ni bộ Bắc Tông – một tổ chức Ni giới đoàn kết, mạnh mẽ và qui củ, có một không hai trong lịch sử Phật giáo nước ta.

Năm 1932, lúc vừa mới thọ giới Sa di ni với Hòa thượng Giác Tiên tại chùa Trúc Lâm (Huế), còn để tóc để chung vai gánh vác hoạt động Phật sự của An Nam Phật Học Hội ở các tỉnh miền Trung, Sư bà Diệu Không đã được tham gia học lớp đại học tại Phật học đường Trúc Lâm. Đây là một nhân duyên lớn của Sư trưởng vì được trực tiếp thọ giáo nội điển Phật học với Quốc sư Phước Huệ. Được biết, Sư trưởng là vị Ni duy nhất được tham dự, trong lớp toàn chỉ các vị Tăng như: Thầy Mật Khế, Thầy Đôn Hậu, Thầy Vĩnh Thừa, Thầy Mật Hiển, Thầy Mật Nguyện và Bác sĩ Lê Đình Thám. Cũng có thể nói rằng, Sư trưởng Diệu Không là một người học trò khá đặc biệt của Quốc sư Phước Huệ trong lớp học này.

Sau khi xuất gia đầu Phật (năm 1932) tại chùa Phước Tường (Gia Định), Sư trưởng Như Thanh quyết chí cầu học giáo lý thâm sâu nhà Phật, nên đã không quản ngại khó khăn đi tham học Phật pháp. Năm 1938, Sư trưởng Như Thanh ra Huế và được Sư trưởng Diệu Không mời ở lại chùa Diệu Đức và thọ học Kinh điển với Hòa thượng Mật Hiển. Tiếp đó, Sư trưởng ra đến Hà Nội để tìm học và nghiên cứu Luật tạng. Cuối năm 1941, Sư trưởng thu xếp về Nam. Sách Sư trưởng Như Thanh cuộc đời và sự nghiệp ghi rõ: Trên con đường về, Sư trưởng được biết Quốc sư Phước Huệ ở chùa Thập Tháp – Di Đà là vị cao Tăng nổi tiếng bác thông Kinh Luận vào bậc nhất thời bấy giờ. Không bỏ lỡ cơ hội, Sư trưởng liền ghé lại Bình Định, đến chùa cầu học bộ Kinh Lăng Già Tâm Ấn với Hòa thượng Phước Huệ. Xét thấy Sư trưởng có căn khí đại thừa, tâm cầu pháp tha thiết, Quốc sư liền hứa khả và đã dạy Kinh Lăng Già Tâm Ấn trong suốt năm tháng. Đây là bộ Kinh khó nhất trong giáo điển Đại thừa, nhưng nhờ thiên tư mẫn tiệp, Sư trưởng lãnh hội thâm nghĩa rất nhanh. Việc học nội điển với Quốc sư Phước Huệ là một thành quả cũng như hành trang quan trọng cho Sư trưởng Như Thanh trên con đường hành đạo và hoằng truyền Phật pháp sau này.

Được thọ giáo nội điển thâm sâu, uyên áo từ nhà giáo dục Phật giáo xuất sắc – Quốc sư Phước Huệ là một cơ duyên để phát triển hạt giống bồ đề vốn ẩn tàng và khơi nguồn mạch trí tuệ giải thoát sẵn có trong tâm thức của cả hai vị Sư trưởng Diệu Không và Như Thanh. Là một bậc cao Tăng thông hiểu nghĩa uyên áo và thâm sâu của giáo lý Đại thừa nên việc truyền thụ cho hàng môn đệ, trong đó có hai vị Ni này, không chỉ dừng lại ở kiến thức mà Ngài còn có thể trực chỉ nhân tâm nhằm khai mở chủng tánh giác ngộ, chí nguyện dấn thân tự lợi tự tha cho người học. Sư trưởng Diệu Không hồi tưởng lại:

“Bộ Lăng Già Tâm Ấn tôi học theo cách đây hơn ba mươi năm với Hòa thượng Thập Tháp khai dạy ở chùa Trúc Lâm tỉnh Thừa Thiên vào năm 1932. Lớp Đại học ấy gồm có các vị Hòa thượng, Thượng toạ và cư sĩ Tâm Minh. Được dự thính Kinh này, tôi như người mê sực tỉnh, nhờ vậy tôi bỏ được cái tập quán phú quý, ô trược, tiến thân vào con đường đạo… ”
Mặt khác, có lẽ nhờ chứng ngộ và trải nghiệm từ hành trạng lẫn đạo nghiệp của Quốc sư Phước Huệ cũng như nhiều vị cao Tăng khác, cũng như tri kiến được mục tiêu cao cả của người xuất gia là duy tuệ thị nghiệp từ Hòa thượng Phước Huệ, về sau hai vị Sư trưởng Diệu Không và Như Thanh trở thành những người đóng góp lớn cho sự nghiệp giáo dục Ni giới, tạo ra một động lực quan trọng nhất để phát triển đội ngũ Ni tài có khả năng đảm đương Phật sự lẫn hoạt động xã hội về sau. Sư trưởng Diệu Không vận động xây dựng Ni viện Diệu Đức tại Huế cho Ni chúng tu học. Sau đó, tiếp tục kiến tạo các Ni viện Diệu Viên, Khải Ân, Hồng Ân, Kiều Đàm, … ở Huế cũng như Bảo Thắng (Hội An), Bảo Quang (Đà Nẵng), Tịnh Nghiêm (Quảng Ngãi), Diệu Quang (Nha Trang). Tương tự, Sư trưởng Như Thanh, sau khi từ giã Tổ đình Thập Tháp – Di Đà về lại chùa Hội Sơn (Thủ Đức) mở lớp dạy Luật cho quý Ni sư, Sư cô từ Nha Trang, Mỹ Tho, Sài Gòn về tham học trong ba tháng an cư kiết hạ. Năm 1944, chư Ni miền Trung, miền Nam hội tụ về chùa Hội Sơn để học Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Lược Ký do Sư trưởng Như Thanh trực tiếp giảng dạy. Nhờ vậy, kiến thức luật học của chư Ni được nâng cao. Năm 1947, Sư trưởng Như Thanh mở Phật học Ni viện Huê Lâm giảng dạy cho khá đông Ni chúng. Ngoài ra, một số Ni trường khác được Sư trưởng khai mở đào tạo Ni tài tại chùa Linh Sơn (Quận 8), chùa Giác Thiên (Vĩnh Long), chùa Tân Hiệp (Mỹ Tho). Sau khi thành lập Ni bộ Nam Việt, Sư trưởng Như Thanh và quý Ni trưởng lãnh đạo mở Phật học Ni viện Từ Nghiêm (Sài Gòn), Phật học Ni viện Dược Sư (Sài Gòn), Phật học Ni viện Diệu Quang (Nha Trang), Phật học Ni viện Diệu Đức (Huế) đào tạo Trung đẳng, Cao đẳng chuyên khoa Phật học. Đó là chưa kể các lớp Sơ đẳng Phật học được mở ra tại các chùa Ni ở nhiều tỉnh, thành miền Nam trước năm 1975. Kết quả của quá trình đào tạo liên tục này mà chư Ni được trang bị kiến thức căn bản Kinh, Luật, Luận, am hiểu sâu sắc Phật học, có khả năng hoằng pháp cũng như giảng dạy. Đồng thời, hệ thống giáo dục Ni chúng ở miền Nam nhanh chóng rộng khắp, qui mô, bài bản. Nhiều vị Ni tài của Phật giáo Việt Nam được đào tạo trực tiếp từ Sư trưởng Như Thanh như: Ni trưởng Thích Nữ Huyền Huệ, Ni trưởng Thích Nữ Như Huy, Ni trưởng Thích Nữ Như Ấn, Ni trưởng Thích Nữ Như Hoa,… Điều này hoàn toàn khác với tình hình trước đây: Phần nhiều chư Ni phải ở tá túc chùa Tăng, chủ yếu là chấp tác công việc chùa mỗi ngày, không thông hiểu về giới luật lẫn lu mờ kiến thức Phật học. Đặc biệt, Sư trưởng Như Thanh được xem là vị giáo thọ quan tâm trau giồi giới đức cho môn đồ nên nhiều năm ròng Sư trưởng giảng dạy nhiều Kinh sách Đại thừa, từ Kinh Viên Giác đến Đại Bát Niết Bàn, từ Lăng Già đến Thủ Lăng Nghiêm, từ Kim Cang đến Bát Nhã, Pháp Hoa, Đại Bửu Tích,… những mong khai mở được trí tuệ Bát nhã, chỉ rõ thật tướng của vũ trụ vạn hữu, dứt trừ mê chấp.

Không chỉ tham gia lĩnh vực giáo dục Phật giáo, Sư trưởng Diệu Không, Như Thanh còn là những nhà phiên dịch Kinh điển tài năng, chứng tỏ cả hai vị thông tuệ, hàm chứa một nội lực thâm hậu về Phật pháp mới có thể rành rẽ việc dịch thuật, lý giải các bộ Kinh điển Đại thừa như nhận định: “Sự hiển lộ một trí tuệ lớn lao trong thân tướng người nữ”. Phải chăng đó là kết quả từ việc học hỏi, trau giồi từ các bậc danh Tăng, trong đó nổi bật là Quốc sư Phước Huệ? Trước khi về với Phật, Sư trưởng Diệu Không đã miệt mài dịch nhiều bộ Kinh Phật: Thành Duy Thức Luận, Du Già Sư Địa Luận, Lăng Già Tâm Ấn, Di Lặc Hạ Sanh Kinh, Đại Trí Độ Luận, Trung Quán Luận Lược Giải, Hiền Thật Luận. Còn Sư trưởng Như Thanh, tuy luôn bận bịu với công việc quản trị của tổ chức Ni bộ và trải thân hành đạo, nhưng Người luôn quan tâm đầu tư phiên dịch Kinh điển nên đã để lại nhiều ấn phẩm có giá trị đến hôm nay. Có thể kể đến: Bát Nhã Cương Yếu, Hành Bồ Tát Đạo, Duy Thức Học, Thiền Tông Cương Yếu,… Thiết nghĩ, đây chính là những di sản tinh thần quý báu và rất có giá trị của hai vị Sư trưởng Diệu Không và Như Thanh để lại cho nhiều thế hệ Ni chúng.

Trong một bài viết, Ni sư Thích Nữ Như Nguyệt cho biết: “Cả hai vị Sư trưởng Diệu Không và Như Thanh được người khác kính phục về đạo lực, đạo hạnh, đạo tâm và đạo quả toát ra từ tâm từ bi và trí tuệ. Đồng thời, với những ai tiếp xúc, gần gũi nhị vị Ni trưởng đều một mực kính trọng về nhân cách cao quý, về bản lĩnh mạnh mẽ, kể cả việc đối nhân xử thế bằng tâm đại bi, buông xả, không mảy may vướng bận thị phi, lợi danh tầm thường của thế gian. Nhất là cả hai vị Sư trưởng luôn tôn trọng Bát Kỉnh Pháp, quý trọng chư Tăng.”
Có được điều này phải chăng là nhờ vào việc hai vị Sư trưởng trực tiếp học hỏi từ thân, khẩu, ý giáo, đồng thời chiêm nghiệm cốt cách phi thường của một bậc chân tu thạc đức – Quốc sư Phước Huệ? Bởi lẽ, trước nay một người thầy giỏi không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn giáo dục nhân cách và đạo đức, thắp lên tinh thần phụng sự, cống hiến nơi người học.

Nói chung, Quốc sư Phước Huệ đã thành công trong sự nghiệp truyền đăng tục diệm, đào tạo nhiều vị danh Tăng, danh Ni cho Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt, ngọn đèn trí tuệ của Ngài đã góp phần khai mở tâm trí cho Sư trưởng Diệu Không và Như Thanh, từ đó tiếp tục nối truyền cho nhiều thế hệ chư Ni kế tục đạo nghiệp của hai vị Sư trưởng.

4. Lời kết

Tóm lại, Quốc sư Phước Huệ là một danh Tăng của Phật giáo Việt Nam, một nhà giáo dục Phật giáo xuất sắc, đồng thời còn là nhà Phật học uyên thâm của Phật giáo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Tìm hiểu đạo nghiệp của Quốc sư cho thấy cả cuộc đời tu tập, hành đạo của Ngài không ngoài mục đích duy tuệ thị nghiệp, làm tròn nhiệm vụ truyền đăng tục diệm để duy trì, phát triển ngôi nhà Phật giáo trong giai đoạn chấn hưng. Vì thế, Quốc sư Phước Huệ mãi là niềm vinh dự, tự hào của chốn thiền môn Bình Định nói chung cũng như sơn môn Tổ đình Thập Tháp Di Đà hôm nay.

Trong di sản tinh thần to lớn, quý báu mà Quốc sư Phước Huệ để lại cho hậu thế luôn hiển hiện hình ảnh hai vị Sư trưởng thông tuệ, mẫn tiệp Diệu Không và Như Thanh đã tiếp nối ngọn đèn thiền của Ngài một cách diệu dụng để đóng góp cho đạo pháp và dân tộc, đặt nền móng vững chắc để xây dựng ngôi nhà Ni giới Việt Nam ngày nay.
Quả thật, trong dòng chảy lịch sử Phật giáo dân tộc, Quốc sư Phước Huệ là vị danh Tăng đặc biệt bởi vì:

“Cái tướng hữu, vô trong tâm pháp của Ngài đã thống nhất, nó giúp cho hạnh nguyện độ thoát quần mê và tự tồn dân tộc qua Duy Tân (vua), Tâm Minh (cư sĩ), Mật Thể, Thiện Hoa,… trở thành ngọn nguồn bất tận, đến muôn đời sau của Phật giáo Việt Nam.”

ThS. Dương Hoàng Lộc

Tài liệu tham khảo

1. Thích Đồng Bổn (1995), Tiểu sử danh Tăng Việt Nam thế kỷ XX (Tập 1), Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Chùa Hồng Ân (2017), Ái đạo dư hương, Huế, NXB.Thuận Hóa.
3. Sư bà Thích Nữ Diệu Không (2009), Đường thiền sen nở, Hà Nội, NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây.
4. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo Sử luận, Hà Nội, NXB. Văn học.
5. Tổ đình Huê Lâm (1999), Sư trưởng Như Thanh – Cuộc đời và Sự nghiệp, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh.


Tham khảo từ :
1. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, Hà Nội, NXB. Văn học, tr. 845.
2. Thích Đồng Bổn (1995), Tiểu sử danh Tăng Việt Nam thế kỷ XX (tập 1), Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 58.

3. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, sđd…, trang 815.

4 Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, sđd…, trang 826.

5.Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, sđd…, trang 846.

6.Thích Đồng Bổn (1995), Tiểu sử danh Tăng Việt Nam thế kỷ XX (tập 1), sđd…, tr. 59.

7.Tham khảo thêm: Thích Nữ Như Nguyệt, Tỳ kheo Ni Như Thanh – Ngôi sao Bắc đẩu của Ni giới Việt Nam. Nguồn: https://giacngo.vn/lichsu/2010/01/01/5FC403/. Ngày truy cập: 13/6/2018.

8.Chùa Hồng Ân (2017), Ái đạo dư hương, Huế, NXB.Thuận Hóa, trang 108.

9.Tổ đình Huê Lâm (1999), Sư trưởng Như Thanh cuộc đời và sự nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, trang 13.

10.Dẫn theo: Đào Nguyên, Quốc sư Phước Huệ (1869-1945). Nguồn: https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=5FC65A. Ngày truy cập: 14/6/2018.

11.Sư bà Thích Nữ Diệu Không (2009), Đường thiền sen nở, Hà Nội, Trung tâm văn hóa Đông Tây – NXB Lao động, trang 34.

12.Tổ đình Huê Lâm (1999), Sư trưởng Như Thanh cuộc đời và sự nghiệp, sđd…, trang 13-15.

13.Tổ đình Huê Lâm (1999), Sư trưởng Như Thanh cuộc đời và sự nghiệp, sđd…, trang 49

14.Chùa Hồng Ân (2017), Ái đạo dư hương, sđd…, trang 94.

15.Sư bà Thích Nữ Diệu Không (2009), Đường thiền sen nở, sđd…, trang 35.

16.Chùa Hồng Ân (2017), Ái đạo dư hương, sđd,,,, trang 94.