Ni trưởng Thượng Liễu Hạ Tánh

24

Nam mô a di đà phật

Thầy đã ra đi khỏi cuộc đời

Con đò còn ở lại giữa đầy vơi

Thu về lá rụng buồn se thắt

Nhớ lại thầy xưa tạm ít

Sư bà bổn sư chúng con thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 41, pháp húy Nhựt Trinh, tự Phổ Triết, hiệu Liễu Tánh, là đệ tử đắc pháp của sư tổ Phước Trường.

Thuở nhỏ long ưa cửa đạo nên quyết chí xuất gia . Sông Tiền Giang thọ mạng khai sinh , đấtCai Lậy duyên lành kết trái . Thân phụ là Lâm Khẩn Cầu, thân mẫu Nguyễn Thị Phương, đều là người kính tin tam bảo, vui vẻ với đạo thiền , quy y với sư tổ Phi Lai cho đến buổi an tường xã báo.

Năm 15 tuổi , trường kỳ chùa Khánh Qưới thầy với mẹ đến thọ sa di Ni giới , Hòa thượng húy Thanh Kế chứng minh , Hòa thượng Pháp Nguyên đường đầu khí giới.

Năm 17 tuổi , mẹ thầy lâm trọng bệnh, một năm sau rồi từ giả cõi trần , còn lại mình thầy chú tiểu sa di, kể từ đây thiếu tình thương của mẹ , rồi thầy phát tâm nhập thất tròn 1 năm để báo hiếu mẫu tình, nhất bái nhất tự ba bộ Pháp Hoa Kinh Địa Tạng gồm 300 bộ.

Năm 20 tuổi, buổi sáng tinh sương, sư bà Bảo An đến thăm và hướng dẫn đến chùa Thiên Phước Tân Hương, an cư kiết hạ, đến ngày giải chế của chư Tăng, thầy được thọ tỳ kheo Ni giới thấy đạo hạnh, Hòa thượng thiền chủ húy Giáp Tạng tổ sư trụ trì chùa Phước Tường , sư bà Vương về cầu pháp, Hòa thượng ban cho bài kệ tắc pháp trong suốt 3 năm tu học tại đây .

Nhật chiếu huyền quang tới thượng thiền

Trinh cường diệu pháp xuất tâm điền

Phổ thông lục trí siêu quần hớn

Tiết độ nhơn gian kết thắng duyên.

Hòa thượng dạy nghi thức Thiền lâm và Hán học nhờ sự giáo dưỡng của tổ sư mà thầy được khai tâm từ độ ấy.

Năm 24 tuổi Hòa thượng cho thầy đến Phật học Ni trường Diệu Thức ở Huế, khi đi Hòa thượng dặn dò:

Đưa trò đi Huế dặn đôi lời
Hãy rang học hành chớ lãng khơi
Ngày khác ắt nên đồ pháp khí
Thạch trụ tan dong dựng đứng đời.

Thầy 1 Ni sinh nghèo khổ nhất trường trong bước đường tha phương học đạo, chỉ 1 chiếc áo nhật bình cũ kỹ để chịu đựng 2 mùa nóng lạnh của đất kinh thành Huế.

Năm 21 tuổi Hòa Thượng cho gọi về Sài Gòn nhân ngày Nhật đảo chánh , Hòa thượng lại giao cho trách nhiệm trụ trì chùa Bửu Càng .

Chao ôi! 1 Ni sinh yếu đuối, mới rời khỏi nhà trường, phải quán xuyến nơi già lam của Tổ Đức, 2 năm dài gặp phải cảnh khó khan vì chiến cuộc ngày càng to lớn, Thầy cùng với các sư cô Diệu Nghiêm, Diệu Đức , Diệu Hòa trở lại chốn Tổ đình Phước Trường để bạch tổ những nổi niềm nơi đó, thầy rở về Cai Lậy dự định đến Bảo An, nhưng vì binh biến lan tràn nên đành ở lại nơi quê chốn củ.

Năm 30 tuổi, hàng ngày lễ bái kinh Pháp Hoa, sau lễ hoàn kinh, truyền giới cho cô Minh Diệu và Minh Qúy là đệ tử đầu tiên, rồi thầy trở về chùa Phước Trường để gần gũi và hầu hòa thượng nhưng gặp đời hoạn lạc lại thêm cảnh thương tâm hòa thượng tản cư lên chùa Long Phước Vĩnh Long, còn thầy thì trở về Cai Lậy.

Ba tháng sau pháp sư Khánh Viên thỉnh hòa thượng về chùa Bửu Hưng Sa Đét rồi qua chùa Phước Hậu Trà Ôn vì cảnh đổi dời thế sự cho nên hòa thượng phải bị thăng trầm thầy nghĩ đến câu

Cảm pháp nữ nhi nan thù
Mộc ân ba chi dị báo

Về đến Cai Lậy thầy cố gắng tìm miếng đất để cất chùa Sư Nữ hiện là Phật Bửu vào năm 1947 các đệ tử Minh Huệ, Minh Lạc, Minh Nhiên, Minh Nhật, Minh Thiền, Minh Hạnh, Minh Ngọc, Minh Bổn phát tâm xuất gia, vài năm sau các cô Minh Thấm , Minh Thông , Minh Thuận, Minh Thiện, Minh Từ, Minh Thành, Minh Kỉnh, Minh Hiếu, Minh Nhã, Minh Hiền, Minh Quang, Huệ Đức, Huệ Thảo…

Hàng ngày 2 buổi sớm chiều thầy giảng kinh Luật cho Ni chúng học, ngoài ra còn có nghề may để sinh sống cho nhà chùa.

Năm 34 tuổi, Đồng Tháp Mười trong cơn khói lữa, mọi người tản cư về chùa Kiêm Tiên, chùa Phật Bửu, thầy tùy thời giúp đỡ cơm cháo thuốc thang và khai đàn Dược Sư cầu an cho bá tánh.

Năm 1950, chùa Phật Quang Bến Tre nhân dịp lễ khánh thành thỉnh thầy về thuyết pháp, nói kinh xong, ban sáng lập yêu cầu thầy giữ chức trụ trì, thầy chỉ hứa mở trường hương trong 3 tháng, vừa làm thiền chủ, pháp sự, chín tuần viên mãn, rồi trở về Cai Lậy năm ấy được 35 tuổi, về đến Phật Bửu thì bận trùng hung chánh điện và sửa sang tịnh thất cho sư tổ.

Năm 37 tuổi, việc chùa đã sửa sang xong thầy phát nguyện nhập thất 1 năm, lạy 10 bộ kinh Pháp Hoa, nhất bái nhất tự và 300 bộ kinh Địa Tạng để cầu siêu cho thân phụ.

Đến ngày mồng 1 tết, thầy được 38 tuổi, các đệ tử đến thỉnh thầy ra thất để chung lo Phật sự tại quê nhà, rồi thầy cùng với sư bà Phổ Đức đến an cư tại chùa Vạn Đức Thủ Đức để hàng ngày nghe hòa thượng Trí Tịnh giảng bộ kinh Lăng Nghiêm, Đại Thừa Chỉ Quán, Pháp Hoa Thông Nghĩa.

Năm 40 tuổi, 1 ngày nọ trên đường về Trà Vinh, sư cụ pháp chủ Huệ Quang ghé thăm hòa thượng Phước Trường, để xin phép cho thầy làm thiền chủ chùa Giác Nguyên Khánh Hội. Sau ngày mãn hạ, thầy cùng các sư bà thành lập Ni bộ tại chùa Huê Lâm, được cử làm phó Ni trưởng Ni bộ trung ương và đại diện Ni bộ tỉnh Định Tường mở lớp sơ đẳng tại chùa Phật Bửu.

Năm 1949, 1958, 1960 tại chùa Phật Bửu đều có mở trung tiểu giới đàn do thầy làm hòa thượng, sư bà Hải Huệ làm yết ma, sư bà Từ Nghiêm làm giáo thọ, sư bà Như Hoa làm điển lễ.

Năm 42 tuổi, thầy làm quản lý chùa Dược Sư và dự lớp huấn luyện trụ trì. Trở về Cai Lậy giảng khóa Phật học phổ thông và dạy người mù chữ.

Năm 43 tuổi, làm trưởng ban hoằng pháp Ni bộ Nam Việt, giảng kinh tại chùa Xá Lợi Hội Phật Học Gia Định, chùa Dược Sư, chùa Vĩnh Tràng(Mỹ Tho), chùa Tây An(Châu Đốc), chùa Linh Sơn(Vũng Tàu).

Năm 44 tuổi, khai sơn Pháp Hoa Ni Viện tại Sài Gòn để Ni chúng có nơi tu học.

Năm 1963 Phật giáo trong cơn pháp nạn thầy làm trưởng ban giảng huấn cho Ni bộ miền nam, cùng với Tăng Ni tuyệt thực trong 48 tiếng đồng hồ để chống lại Ngô triều kỳ thị tôn giáo.

Từ năm 49 đến năm 52 tuổi thầy thân tâm bì quyện nhưng hàng ngày vẫn cố gắng tụng kinh Pháp hoa, lo chuyên tâm niệm Phật, bất ngờ hòa thượng lâm trọng bệnh và hẹn buổi thâu thân , thầy hết sức lo tang lễ cho sư ông và làm tròn trong niềm hiếu sự, đến tuần thất thứ 3 xong đến mời Ni trưởng chùa Huê Lâm, làm vụ trưởng Ni bộ Bắc tông. Trong thời gian làm việc thầy có cùng với Ni sư Như Hoa đi tham quan các nơi.

Khi ra Huế lúc về Đà Nẵng, thăm Khánh Hòa, rồi đến Phan Rang. Lúc đi hết các tỉnh miền Nam, trong mọi việc giúp đỡ cho Ni bộ. Lúc thầy khai trường dạy đạo khi truyền giới cho Ni.

Năm 65 tuổi nhân ngày húy nhật sư tổ Phước Trường, thầy khai đàn trao giới cho các giới tử được ôn thừa pháp lạc.

Năm 67 tuổi, ngày rằm tháng 02 vía Phật nhập Niết bàn, cũng là ngày húy nhật tổ Phi Lai(Châu Đốc) thầy mời sư bà Hữu Chí làm hòa thượng đàn đầu để thí giới cho chư Ni và trùng tu cổng tam quan chùa Phật Bửu, sửa sang bàn tổ vừa xong rổi thầy lâm trọng bệnh, thời gian này sức khỏe kém dần thầy dặn dò mọi việc và gửi gấm đệ tử cho các sư bà đến 20 giờ 35 phút ngày 12 tháng 9 năm Nhâm tuất thầy thâu thân viên tịch, có mặt tại bệnh viện, sư cô Minh Huệ, Minh Thiện, Minh Viên, cô Minh Thành, Minh An, Minh Phước và cô Minh Nhẫn.

Hưởng tuổi đời 68 năm dư với tuổi đạo 48 hạ thiệt là:

Từ chon như thầy đến 3 miền

Nay viên tịch trở về chính phẩm

Tông phong tổ ấn gởi lại non sông

Giáo hội môn đồ ngàn thu vĩnh biệt

Nam mô đăng thập địa bồ tát ma ha tát