Nhớ Thầy xưa

443

<HĐ>Một buổi sáng ngồi nơi chiếc bàn học, đang đọc dở quyển sách về thông điệp tình huynh đệ. Trong phút giây sao nhãng, thả hồn về quá khứ, tôi nhớ lại những hình ảnh thân thương, tận tụy của các bậc Giáo thọ đã từng dẫn dắt chúng tôi trên con đường khai hóa tâm linh.

Thời Sơ cấp, khi ấy lớp chúng tôi là những Tăng Ni sinh trẻ, xuất gia không lâu, được Thầy tổ cho đi học. Sơ cấp được xem như là chương trình gia giáo, lớp vỡ lòng của Phật giáo. Chương trình là những bài giáo lý căn bản trong quyển Phật học Phổ thông của cố Hòa thượng Thiện Hoa. Giáo thọ dạy như trong sách, trên truyền sao dưới chép vậy, Giáo thọ lại thường xuyên kiểm tra bài trên lớp, buộc Tăng Ni sinh sau khi học đều phải thuộc lòng giáo lý căn bản. Những bài học đầu tiên về Phật, Pháp, Tăng mặc dù đã biết ít nhiều trước đó, nhưng ở đây quý Giáo thọ định nghĩa rõ ràng hơn về sự hiện hữu cũng như tín ngưỡng dân gian, những bài học ấy khắc sâu vào tâm Tăng Ni sinh khó thể nào quên được, đó là những bài học đầu tiên. Các vị Giáo thọ Sơ cấp luôn ân cần, quan tâm đến chúng tôi, chỉnh sửa từng chút một, từ cách dùng từ, lời nói, cử chỉ, hành động cho hợp với nếp Đạo, giai đoạn này chúng tôi cảm như người mẹ hiền hướng dẫn con thơ tập ăn, tập nói và dìu con bước những bước đầu tiên trong đời. Những bài học ấy là kỷ niệm, là chất liệu và là nền móng vững chắc để chúng tôi tiến xa hơn trên con đường tu nhân học Phật.

Đến khi vào Trung cấp, cũng là những giáo lý phổ thông đó nhưng được quý Giáo thọ mở rộng hơn, có tính liên hệ với cuộc sống tu tập hàng ngày. Qua đó, giúp Tăng Ni sinh thấy được tính thiết thực của giáo lý, hoàn toàn không phải lý thuyết cao xa mà dùng để ứng dụng ngay trong cuộc sống của mỗi người bằng kinh nghiệm tu tập của mình, Tăng Ni sinh sẽ biết cách ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống tu học để tịnh hóa thân tâm, lợi ích cho mình và người. Để Tăng Ni sinh làm quen với phương pháp học ở các cấp học cao hơn, Giáo thọ đã bắt đầu sử dụng trình chiếu bài giảng, Giáo thọ chỉ đọc cho ghi chép những gì cần thiết còn lại tự theo dõi trình chiếu, các bài kiểm tra thường nghiêng về việc ứng dụng bài Kinh giáo đó như thế nào trong thực tế. Nên các bài kiểm tra khi trả về, chúng tôi không chỉ háo hức đợi chờ con điểm mà còn mong cả những lời nhận xét của Giáo thọ về mình. Tôi còn nhớ, bài kiểm tra môn Phật pháp căn bản năm ấy, Sư Giáo thọ cho tôi con điểm 8 và phê dòng chữ như sau: “Có ý, hành văn rành mạch nhưng cần có ứng dụng thực tế cuộc sống tu tập của mình”. Giáo thọ Trung cấp trong tôi là thế, dắt chúng tôi bước tiếp trên lộ trình ấy và bây giờ khi đã bước lên cấp Đại học.

Thời gian đầu thật sự chúng tôi đều cảm thấy có gì bỡ ngỡ, thậm chí có lúc cảm giác bị hụt hẫng vì chưa thích nghi với cách dạy và học của bậc Đại học, bởi hoàn toàn không giống bậc Sơ, Trung. Cái được dạy và học ở Đại học chính là hệ tư tưởng, những sự kiện xảy ra, những lời Đức Phật nói ra,… nếu trước đây chỉ cần học thuộc lòng, bây giờ phải nghiên cứu sâu thêm sự kiện ấy xảy ra trong bối cảnh nào, lời dạy ấy dành cho đối tượng nào trong điều kiện văn hóa lịch sử nào, tại sao,… để có cái nhìn nhận đúng đắn mà không bị phiến diện. Từ đó, sinh viên mới hiểu chính xác ý nghĩa lời Phật dạy, sự ứng dụng không chỉ tu tập của bản thân mà còn làm phương tiện hoằng pháp cho mình sau này. Giáo thọ bấy giờ chỉ là người định hướng, không còn theo kiểu lý thuyết đọc cho chép mà gợi mở các vấn đề, đặt vấn đề để khơi dậy các mối nghi, thúc đẩy ý muốn tìm hiểu cho Tăng Ni sinh viên đồng thời giới thiệu các nguồn tài liệu làm cơ sở cho nghiên cứu. Thái độ học tập của sinh viên chúng tôi cũng phải đổi khác. Nếu ở cấp dưới, chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào thầy cô, thầy cô là trung tâm của buổi học, ghi chép bài đầy đủ và học thuộc lòng như một nhiệm vụ trước khi đến lớp, nếu có một suy nghĩ gì mới chưa chắc đã được ghi nhận vì “chưa học bò đã lo học chạy”, thì trên bậc Đại học, việc tự học là rất quan trọng. Giờ đây, chúng tôi nhận những chìa khóa từ tay Giáo thọ và chính mỗi người phải dùng chúng để tận tay mở khóa kho tàng tri thức bằng việc dành thời gian lên thư viện, tra cứu các trang mạng, nghiên cứu đọc sách…

Ở cấp Đại học, các Giáo thọ sư rất khuyến khích sự tương tác, tư duy sáng tạo, ứng dụng mới mẻ trong nhận định đánh giá vấn đề của Tăng Ni sinh. Người Giáo thọ Đại học như một người huynh trưởng đi trước hướng dẫn lại cho đàn em cách đi như thế nào để không bị lạc trong kho tàng tri thức.
Có một vị Giáo thọ đã nói: “Người học trò, nếu chỉ nhớ đến thầy cô và tặng những bông hoa tươi thắm, những món quà trang trọng mà thiếu đi sự tinh tấn, hành trì những gì đã học thì cũng chỉ là món quà đè nặng thêm lên tâm lý người thầy trong mỗi giờ đứng lớp mà thôi. Nên món quà quý nhất mà thầy mong muốn nhận được ở Tăng Ni sinh đó là sự chân tu, thật học. Chúng ta là người xuất gia, sự học ở đây không vì chạy theo bằng cấp mà học để biết, biết để tu, làm sao cho tri hành hợp nhất, không luống uổng đời tu của mình và không cô phụ ân của các bậc Thầy tổ tôn túc đã hi sinh cho chúng ta.”

Nhìn lại quyển lịch để bàn, tôi nhận thấy ngày 20/11 đã gần kề, chợt nhớ:…

Người đi góp nhặt phấn thời gian
Đã ngả màu sương với gió ngàn
Vun giống huệ từ xưa để lại
Tình đời, ý đạo thắm nhân gian.

Hình ảnh Giáo thọ sư đã lưu lại trong tâm khảm chúng tôi, những bước người đi qua đã hằn lên dấu vết, thế hệ sau noi theo đó mà tìm cầu chân lý. Mỗi ngày ước mơ trong tôi một lớn sẽ trở thành một Giáo thọ sư trong tương lai, để mỗi ngày nối tiếp những bậc thầy đứng lớp truyền trao tri thức, thông qua sự thể nghiệm bằng tấm lòng của một người thầy mà tôi đã được nhận từ các vị Giáo thọ sư trong từng cấp học của mình.

Huệ Quang