Bạn biết gì về Thiều Thất Phú của Tiểu Sĩ Bạch Liên? (phần 2)

22

  Câu này ẩn chứa đạo lý rất sâu xa, ý ông nói người tu cực kỳ đơn giản, không quan trọng chỗ ở, không cần lầu gác cao sang… miễn là có chỗ tu hành là được. Trời đất là những gì có sẵn trong tự nhiên mà dùng thôi, đâu cần kiếm tìm chi nữa. Như chúng ta thấy thời nay mấy ai được như vậy? Ở nhà lá, muốn lên nhà tôn, ta ở nhà tôn muốn lên nhà xây, ở nhà trệt muốn lên nhà lầu, có nhà lầu muốn có xe hơi, có xe hơi lại muốn làm tỷ phú… tâm tham muốn của con người có bao giờ là dừng lại, có bao giờ thấy là đủ? Thế nên trong sám hối sáu căn của vua Trần Thái Tông, có câu:

Của chứa tợ sông, lòng như hũ chảy
Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy.

Trừ khi chúng ta biết đạo lý, có tâm tu hành thì mọi thứ đều chuyển đổi. Đối với những người tu thì không vướng bận chi cả.

“Trùm ba gian nhà cỏ lưa thưa, buông mấy cánh rèm bồng phơ phất”, nghĩa là: nhà của ông được làm ba gian, lợp bằng lá lưa thưa, có mấy tấm màn (rèm cửa) được làm từ cỏ bồng (loại cỏ này rất nhẹ) nên bay phất phơ “phơ phất”.

Câu phú tiếp theo:
Chữ Nôm:
牆坦𡏥㙮高𠀧𡬷, 寬𨴦𥯋迎𦰟𩙋南偷.

Chữ Việt:

“Tường đất sét đắp cao ba tấc, khoang cửa mành nghênh ngọn gió Nam thâu.”
Ý nói tường của nhà ông được làm từ đất sét đắp cao ba tấc, những tấm mành của song cửa, đón ngọn gió hướng Nam thổi vào (ngênh ngọn gió Nam thâu).

Chữ Nôm:

𠃅𦹵𦱊拉待𠄩𡬼, 𣘓古𪄌扡曷湄𩆍𢩧

Chữ Việt:

“Mái cỏ gianh lợp được hai gang, bẫy cổ ngỗng đỡ hạt mưa rào hắt.”

Nghĩa là mái được lợp bằng cỏ, khoảng hai gang, “bẫy cổ ngỗng”: rầm nghiêng vươn ra khỏi hàng cột ngoài để đỡ mái hiên trong, vì kèo hình cong như cổ con ngỗng, đỡ hạt mưa rào hắt. Chỉ cho cái mái đưa ra ngay cửa để đỡ bị mưa rào hắt vào nhà.

Chữ Nôm:

榾䓡梆鞅妸𥋴強生, 𣙯梛鯜忍盧𥋳拱弼.

Chữ Việt:

“Cột tre bương óng ả ngắm càng xinh, rui nứa tép nhẵn lừ coi cũng bật.”
Cột nhà làm bằng cây tre bương, loại tre to cao và rất thẳng, chiều dài 6-9 m, là vật liệu làm nhà ở nông thôn, óng ả (láng) càng ngắm thì càng thấy xinh, “rui nứa tép” là những thanh tre hay gỗ đặt theo chiều dốc của mái nhà, đỡ những thanh mè được làm bằng tre nhỏ hơn, những thanh này cũng láng nhẵn rất đẹp và nổi bật (coi cũng bật). (Rui: thanh tre hay gỗ đặt theo chiều dốc của mái nhà để đỡ những cái mè. Nứa: loài cây cùng họ với tre, thân mỏng, giống dài, mọc từng bụi ở rừng, thường dùng để đan phên. Tép: Tre nhỏ. Nhẵn lừ: rất nhẵn, rất láng.)

Qua đoạn:

𢝙𠊝沔少室
𢝙𠊝沔少室
𩂏箼㐌𡗶, 𢪲蹎産坦
𠆳𠀧間茄𦹵蘆疎, 𢭾氽𦑃簾蓬披拂
牆坦𡏥㙮高𠀧𡬷, 寬𨴦𥯋迎𦰟𩙋南偷
𠃅𦹵𦱊拉待𠄩𡬼, 𣘓古𪄌扡曷湄𩆍𢩧
榾䓡梆鞅妸𥋴強生, 𣙯梛鯜忍盧𥋳拱弼.

“Vui thay miền Thiếu Thất,
Vui thay miền Thiếu Thất,
Che nóc đà (đã có) trời, nâng chân sẵn đất.

Trùm ba gian nhà cỏ lưa thưa, buông mấy cánh rèm bồng phơ phất,
Tường đất sét đắp cao ba tấc, khoang cửa mành nghênh ngọn gió nam thâu;
Mái cỏ gianh lợp được hai gang, bẩy cổ ngỗng đỡ hạt mưa rào hắt.
Cột tre bương óng ả ngắm càng xinh, rui nứa tép nhẵn lừ coi cũng bật.”
Qua bảy câu phú đầu, cho chúng ta thấy Tiểu sĩ Bạch Liên đã miêu tả lại cái thất nhỏ, nơi ông ở tu tập, tuy không có gì cả, chỉ là: mái cỏ, cột tre, tường đất sét… nhưng đối với ông như vậy đã đủ lắm rồi, là tuyệt đẹp vừa ý người tu hành. Bảy câu phú này, cũng tương ứng với bài thơ Thảo Am của Thiền sư Hy Thiên Thạch Đầu, Ngài sinh năm 695, mất năm 785, họ Trần, quê ở Cao Yếu Đoan Châu, là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng ở Tào Khê. Ngài có làm bài thơ như sau:

Thảo Am Ca
Ngô kết thảo am vô bảo bối
Phạn liễu hậu thung đồ thùy khoái.
Thành thời sơ kiến mao thảo tân
Phá hậu hoàn tương mao thảo cái.
Trụ am nhân, trấn thường tại
Bất thuộc trung gian dữ nội ngoại
Thế nhân trụ xứ ngã bất trụ
Thế nhân ái xứ ngã bất ái.
Am tuy tiểu, hàm pháp giới
Phương trượng lão nhân tương thể giải
Thượng thừa Bồ tát tín vô nghi
Trung hạ văn chi tất sanh quái.
Vấn thử am, hoại bất hoại?
Hoại dữ bất hoại chủ nguyên tại
Bất cư nam bắc dữ đông tây
Cơ thượng kiên lao dĩ vi tối.
Thanh tùng hạ, minh song nội
Ngọc điện chu lâu vị vi đối
Nạp bì mông đầu vạn sự hưu
Thử thời Sơn tăng đô bất hội.
Trụ thử am, hưu tác giải
Thùy khoa phô tịch đồ nhân mãi
Hồi quang phản chiếu tiện quy lai
Khuếch đạt linh căn phi hướng bối.
Ngộ Tổ sư thân huấn hối
Kết thảo vi am mạc sanh thối
Bách niên phao khước nhậm tung hoành
Bãi thủ tiện hành thả vô tội.
Thiên chủng ngôn, vạn ban giải
Chỉ yếu giáo quân trường bất muội
Dục thức am trung bất tử nhân
Khởi ly nhi kim giá bì đại.

Dịch:
Bài ca Thảo Am
Tôi cất am tranh không của báu
Ăn xong thong thả ngủ ngon lành
Khi thành nhìn thấy cỏ tranh xanh
Lúc hỏng lại tìm cỏ tranh lợp.
Người chủ am vẫn mãi còn
Không thuộc khoảng giữa chẳng ngoài trong
Chỗ người đời trụ, ta chẳng trụ
Chỗ người đời ưa, ta chẳng ưa.
Am tuy nhỏ, trùm khắp giới
Lão già phương trượng mới hiểu tường
Bồ tát thượng thừa tin chẳng ngại
Trung hạ nghe đây ắt lạ kỳ.
Hỏi am này hoại chẳng hoại?
Hoại cùng chẳng hoại chủ mãi còn
Chẳng ở Đông Tây hoặc Nam Bắc
Nền móng vững vàng là rất chắc.
Dưới tùng xanh, trăng giọi song
Ðiện ngọc lầu châu chưa dám đối
Màn che chăn đắp muôn việc thôi
Khi này Sơn tăng toàn chẳng hội.
Ở am này, thôi khởi nghỉ
Ai khéo trải chiếu mời người mua
Hồi quang phản chiếu là trở về
Ðạt suốt linh căn không theo bỏ.
Gặp Tổ sư thân chỉ dạy
Kết cỏ làm am chớ thối lui
Trăm năm bỏ sạch mặc tung hoành
Buông thõng tay đi vẫn không tội.
Ngàn thứ nói, muôn điều hiểu
Chỉ cốt dạy anh thường chẳng muội
Muốn biết không chết, người trong am
Ðâu rời đãy da hiện nay có.
Bốn câu thơ đầu:
Tôi cất am tranh không của báu
Ăn xong thong thả ngủ ngon lành
Khi thành nhìn thấy cỏ tranh xanh
Lúc hỏng lại tìm cỏ tranh lợp.

Một cái am không có của báu, chỉ lợp bằng cỏ, tâm an nhàn không lo sợ, ngủ nghỉ tự tại, không sợ trộm cướp như chúng ta thời nay. Nhiều nhà giàu phải lo đủ thứ, sợ cháy nhà, mất tài sản… Còn các Ngài không có gì để sợ mất, thật tự tại làm sao! Khi nó thành thì biết nó thành, khi nó hoại thì biết nó hoại, tìm cỏ lợp lại, tự tại an nhiên.

Bốn câu thơ tiếp theo:

Người chủ am vẫn mãi còn
Không thuộc khoảng giữa chẳng ngoài trong
Chỗ trụ người đời ta chẳng trụ
Chỗ yêu người đời ta chẳng yêu.

Cái cốt lõi sự tu hành là ở chỗ này, các vị Thiền sư luôn sống được với ông chủ của chính mình, tâm Phật hiện tiền, khách trần vọng tưởng có đến rồi đi, nhưng các Ngài luôn sống với chủ nhân ông hằng hữu nên nói: Người chủ am mãi còn, chân tâm này không thuộc khoảng giữa chẳng ngoài trong. Chỗ trụ người đời ta chẳng trụ, chỗ yêu người đời ta chẳng yêu, chỗ trụ của người đời là thường bám víu vào những cái giả tạm, như quyến thuộc, tài sản, nhà cửa đất đai, ruộng vườn… người tu không trụ vào những thứ ấy, còn đối với sự đối đãi yêu ghét, được mất… các Ngài cũng không màng, nên tâm thể thênh thang tự tại.

Bốn câu thơ tiếp theo:
Am tuy nhỏ, trùm pháp giới
Lão già phương trượng mới hiểu tường
Bồ tát thượng thừa tin chẳng ngại
Trung hạ nghe đây ắt lạ kỳ.

Cái “tướng” của am, nơi ở của các Ngài tuy nhỏ, nhưng người trong am sống được với cái không kẹt trên tướng, nên nói trùm khắp pháp giới, chỉ có Phật Tổ mới hiểu được Ngài. Hoặc hàng Bồ tát thượng thừa thì tin không có gì nghi ngại, những bậc trung và hạ căn, thì nghe như vậy sinh tâm nghi ngờ chẳng tin (nghe đây ắt lạ kì).

Bốn câu tiếp theo:

Hỏi am này, hoại chẳng hoại?
Hoại cùng chẳng hoại chủ mãi còn
Chẳng ở Đông Tây hoặc Nam Bắc
Nền móng vững vàng là rất chắc.

Am cỏ có hình tướng thì sẽ hoại, nhưng cái quan trọng không phải là am, mà là ông chủ trong am (chỉ cho tánh giác) chủ nhân ông. Nắm được cái gốc (nền tảng, căn bản) của sự tu hành là quá tuyệt vời, được như vậy thì không kẹt ở Đông Tây hoặc Nam Bắc nữa.

Dưới tùng xanh trăng rọi song
Điện ngọc lầu châu chưa dám đối
Màn che chăn đắp muôn việc thôi
Khi này Sơn tăng toàn chẳng hội.

Kể về hiện thực cái am của Thiền sư Thạch Đầu ở dưới bóng của cây tùng xanh um, có trăng rọi xuống song cửa sáng dịu dàng. Nghĩa sâu hơn, nói về người trong am đã sống được với thể tánh sáng suốt, luôn có trí tuệ chiếu soi, sống với tâm Phật rồi thì dù có điện ngọc hay lầu châu cũng không sánh cùng được với những bậc dật sĩ chân tu. Vì sao? Vì điện ngọc lầu châu là những thứ có hình tướng, sẽ hoại diệt, còn người sống được với trí tuệ bất sanh bất diệt thì vĩnh hằng không ai lấy cắp được.

Màn che chăn đắp muôn việc thôi
Khi này Sơn tăng toàn chẳng hội.

Ý nói, người đã ngộ đạo, dừng hết mọi duyên trần, tuy cũng sinh hoạt như người thường, cũng ăn, mặc, ngủ nghỉ (màn che chăn đắp) nhưng tâm không dính mắc chấp kẹt, đắm luyến thường tình như người thế gian, những vị tu được như thế, tăng dùng thức tình mà hiểu các Ngài thì trọn không thể được, vì điều mà các Ngài tu chứng vượt khỏi sự tầm thường của thế nhân, nên nói Sơn tăng phần nhiều không hiểu (chẳng hội).

Ở am này thôi khởi nghĩ
Ai khéo trải chiếu mời người mua
Hồi quang phản chiếu là trở về
Đạt suốt linh căn không theo bỏ.

Thiền sư Hy Thiên muốn chỉ cho chúng ta tu, dẹp bớt những vọng tưởng (khởi nghĩ) ai khéo thì dùng phương tiện để giáo hóa, không để cho Pháp môn này đoạn diệt. Phải thường tự phản quang (xem xét, soi sáng) lại chính mình để trở về với bản tâm xưa nay. Được chỗ ấy rồi thì vượt ngoài đối đãi, y sờ sờ ngay đây, không theo cũng không bỏ (đạt suốt linh căn không theo bỏ)

Gặp Tổ sư thân chỉ dạy
Kết cỏ làm am chớ thoái lui
Trăm năm bỏ sạch mặc tung hoành
Buông thõng tay đi vẫn không tội.

Gặp được vị thầy mắt sáng chỉ dạy, thì ta nương nơi đó kiên tâm bền chí tu hành không thối lui. Tu lâu ngày, sạch những vọng tưởng phiền não đã chất chứa từ vô thỉ kiếp, thì mặc sức mà tung hoành, tất cả động dụng không ngoài chân tâm, đều là diệu dụng thì đâu có gì ngăn ngại? Đến chỗ không còn tạo tác nữa, thì tội cũng không. Vì không tạo tác nên đâu có.

Ngàn thứ nói muôn đều hiểu
Chỉ cốt dạy anh thường chẳng muội
Muốn biết không chết người trong am
Đâu rời đãy da hiện nay có.

Khi hiện bày thì có muôn màu vạn vẻ, đủ thứ Pháp môn phương tiện, nhưng cốt là dạy người tu chúng ta đừng mê mình theo vọng, mà hằng sống với ông chủ. Phật tâm hiện tiền nơi đây, mà muốn được như vậy thì chúng ta tu ngay trên thân tứ đại này (đãy da) chứ không ngoài y mà có, ngoài thân mà tìm Phật, tìm đạo thì trọn không thể được.

Qua bài thơ Thảo Am Ca của Thiền sư Hy Thiên ở núi Thạch Đầu, cho chúng ta thấy ý chỉ tu hành của Ngài thâm sâu, cuộc sống thì giản đơn, nếp sống của tiểu sĩ Bạch Liên này cũng gần giống như Thiền sư, cũng chỉ cái am cỏ, cái thất nhỏ… tuy nhỏ nhưng đạo lý thì vô tận.

Trở lại với những câu phú tiếp theo:

𠠩案預沒𢬣如意, 排鋪經妙法蓮花.
𨕭班撩氽解恒心, 𠄜座像阿彌陀佛.

“Trước án dựa một tay như ý, bày pho Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Trên ban treo mấy dải hằng tâm, thờ tòa tượng A Di Đà Phật.”

Từ câu phú thứ tám đến câu thứ mười hai, tiểu sĩ Bạch Liên miêu tả gian thờ Phật gồm có: Trước bàn có dựa “một tay như ý” là dụng cụ hình một bàn tay, có cái cán dài để tự mình gãi khi bị ngứa, trên bàn còn có bày quyển Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

“Trên ban treo mấy dải hằng tâm”: Mấy tấm ghi danh sách của những người có công làm thất. (Dải: Có giá trị tinh thần hoặc vật chất dành riêng cho người hay đơn vị đạt thành tích cao. Hằng tâm: tấm lòng tốt sẵn có, thường có). Ở gần đó, có thờ tượng Phật A Di Đà (thờ tòa tượng A Di Đà Phật). Cho thấy vị cư sĩ này vừa tu Thiền vừa tu Tịnh, hay nói cách khác là Thiền Tịnh song tu. Như chúng ta thấy Thiền đời Trần ta không nói, nhưng kể từ Thiền nhà Nguyễn về sau, những vị Thiền sư cũng dạy Pháp môn Tịnh Độ, vậy có làm ta thắc mắc gì không? Thiền sư sao cũng dạy Pháp môn Tịnh Độ? Qua đây mỗi người hãy với cái nhìn vượt ngoài sự chấp pháp của riêng mình. Những vị Thiền sư là người thấy tánh nên các Ngài không kẹt vào hai bên, giữa yêu ghét, phải trái… nên tùy vào căn cơ của chúng sanh mà phương tiện giáo hóa có sự khác nhau. Có thêm một người tu tập sẽ bớt đi một tù nhân, một ngôi chùa mọc lên, thì một nhà tù bị phá vỡ… Thế nên, chúng ta những người con Phật nên có cái nhìn đúng chân lý, đúng chánh pháp, không nên khi mình tu Pháp môn nào thì ca ngợi, tán dương Pháp môn ấy, còn những Pháp môn khác thì chê bai, đả kích… chính cái tâm ấy lại lạc xa với chơn đạo. Sư ông Trúc Lâm thượng Thanh hạ Từ là vị tu theo Thiền tông Việt Nam vào đời Trần (Thiền phái Trúc Lâm) và cũng là người phục hưng lại dòng Thiền thuần Việt. Thế ấy mà chúng ta có ngờ thân phụ của Ngài là cụ ông Trần Văn Mão, mất ngày 23/5/1975 (Ất Mão), hưởng thọ 79 tuổi và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Đủ, mất ngày 05/10/1957 (Đinh Dậu), hưởng dương 59 tuổi. Khi còn sanh tiền cụ ông và cụ bà đều tu Pháp môn niệm Phật A Di Đà (Tịnh Độ). Trong suốt khoảng thời gian Sư ông thượng Thanh hạ Từ hoằng truyền chánh pháp, mặc dù phục hưng, xiển dương Thiền tông, nhưng chưa một lần Ngài chê bai hoặc đả kích một Pháp môn nào cả, chỉ yên bề tu tập và độ sanh mà thôi. (Chúng con được nghe Sư phụ Trụ trì Thiền viện Bảo Hải (Việt Nam) và Thiền viện Trúc Lâm Phật Đăng (Arizona – USA) là Ni sư thượng Hạnh hạ Bình, người cháu (gọi Sư ông là bác, vì thân phụ của Ni sư Bảo Hải, là em trai của Sư ông Trúc Lâm) duy nhất trong dòng họ đi xuất gia sau khi tốt nghiệp…, và cũng là đệ tử của Ngài. Ngoài Sư phụ thì còn các vị giáo thọ khác, nhắc rất nhiều đến công hạnh của Sư ông khi những vị ấy còn tu tập trong môi trường do Sư ông hướng dẫn, cộng thêm những băng đĩa, Kinh sách, pháp thoại Sư ông đã thuyết giảng càng minh chứng rõ ràng hơn… Đây là điểm quan trọng mà đàn hậu học chúng ta cần noi theo tu tập, không kẹt, không chấp Pháp môn mình đang tu, không chê bai đả kích bất kỳ Pháp môn nào. Chỉ một bề chuyên tâm, soi sáng chính mình mà tu tập và làm tròn trách nhiệm tự lợi và lợi tha của người tu sĩ, có như vậy chúng ta mới xứng đáng là những người con dòng họ Thích. Pháp môn, phương tiện tu tập, được ví như chiếc thuyền, khi chưa đến bờ, thì ta cần nương tựa để tu tập, nhưng đã đến nơi, lên bờ rồi thì ta phải bỏ thuyền lại bến chứ, chẳng lẽ vác thuyền lên vai rồi đi sao? Chính vì thế, chỉ là phương tiện, có cái nhìn đúng với chánh pháp giúp ta giảm hoặc không còn kẹt và chấp nữa, cứ chiêm nghiệm kỹ lại mà xem, thì chúng ta sẽ thấy và thấu rõ vấn đề.

楳楛櫗攔果桃打䏾, 槌𣜰摳榮㖂沒舂𧷺.

“Mõ gỗ mít hình quả đào đánh bóng, dùi lim khua vang dậy một thung tròn.”

Cái mõ để đánh khi tụng kinh, được làm từ gỗ mít, hình dạng như quả đào được đánh bóng láng. Cái dùi để gõ, được làm bằng gỗ lim, khi đánh tiếng mõ vang lên, khoảng một thung tròn (một khoảng không gian lõm tròn, đường kính trong vòng 5 m, ý nói trong phạm vi nhỏ).

鐘銅𫅷囷債𣑵忍離, 橅𣒾請銀𨱽𨑮仕屈.

“Chuông đồng già khuôn trái nhót nhẵn lì, vồ vông thỉnh ngân dài mười sải khuất.”

Chuông được làm bằng đồng rất già, theo khuôn mẫu, hình trái nhót (loài cây có quả hình trứng, vị chua, ăn sống hay để nấu canh) được đánh bóng (nhẵn lì). Cái dùi thì được làm bằng gỗ vông, đồ dùng có cái cán để nện (đánh) chuông, được làm từ gỗ vồ vông (lá cây to thịt xốp rất nhẹ, da có gai, hoa màu đỏ bầm). Chuông khi được thỉnh, ngân dài và xa hơn mõ đến mười sải khuất (độ dài hai cánh tay dang ngang, từ đầu bàn tay nọ đến đầu bàn tay kia (sải tay) khoảng 20m, xa hơn nơi để cái chuông, nên dùng chữ khuất).

香沈白燻𣌉𣋽庄欺殘, 燈油楚𤐴𣈘𣈗空𣅶𤎕.

“Hương trầm bạch hun khuya sớm chẳng khi tàn, đèn dầu sở thắp đêm ngày không lúc tắt”.

Ý câu phú này diễn tả: Trên bàn Phật hương trầm được đốt liên tục (khuya sớm), khi tàn, tro của nó màu trắng. Đèn dầu sở: là cây đèn được đốt bằng dầu sở (loại cây thuộc họ chè, quả dùng để lấy hạt ép dầu). Trên bàn Phật đêm cũng như ngày, đèn dầu này không khi nào tắt, luôn được thắp sáng.

Qua đoạn phú này, miêu tả gian nhà trước, thờ Phật của tiểu sĩ Bạch Liên:

𠠩案預沒𢬣如意, 排鋪經妙法蓮花.
𨕭班撩氽解恒心, 𠄜座像阿彌陀佛.
楳楛櫗攔果桃打䏾, 槌𣜰摳榮㖂沒舂𧷺.
鐘銅𫅷囷債𣑵忍離, 橅𣒾請銀𨱽𨑮仕屈.
香沈白燻𣌉𣋽庄欺殘, 燈油楚𤐴𣈘𣈗空𣅶𤎕.

“Trước án dựa một tay như ý, bày pho Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Trên ban treo mấy dải hằng tâm, thờ tòa tượng A Di Đà Phật.
Mõ gỗ mít hình quả đào đánh bóng, dùi liêm khua vang dậy một thung tròn.
Chuông đồng già khuôn trái nhót nhẵn lì, vồ vông thỉnh ngân dài mười sải khuất.
Hương trầm bạch hun khuya sớm chẳng khi tàn, đèn dầu sở thắp đêm ngày không lúc tắt.”

Đoạn này cho chúng ta thấy, về tướng: Vị cư sĩ này rất tinh cần, khuya sớm hương khói, đèn đuốc sáng choang, công phu đều đặn.

Về ý nghĩa sâu hơn, chúng ta có thể hiểu, vị cư sĩ này chuyên tâm tu tập trong ngoài như một, không gián đoạn, luôn để đèn tâm của mình mãi sáng ngời, có trí tuệ bát nhã hằng soi ngày cũng như đêm. Tiếp theo ông mô tả gian nhà kế:

蔭坦𣜋檜棱𤍇産, 茶山殽專氽渃𦹳萩.

“Ấm đất mớ củi rừng nấu sẵn, trà Sơn hào chuyên mấy chén thơm tho.”

Cái ấm chế trà, được làm từ đất, nấu trà bằng củi ở rừng núi, trà Sơn hào: trà trồng tại núi. Chuyên: rót nước trà từ chén tống sang các chén quân, theo lối uống trà cổ truyền, mấy chén thơm tho. Chuyên trà qua lại hương thơm ngào ngạt. Trà ở đây nấu rất công phu, chế qua mấy lần, người Bắc gọi là chuyên trà, chỉ có những người xưa rành và biết uống trà, thì rõ việc “chuyên trà” này, đặc biệt người Nhật Bản cũng rất biết về nghệ thuật uống trà. Chúng ta thời nay nấu nước sôi, chế vào tí là uống ngay, chứ không rành về nghệ thuật này của người xưa.

開師盤楛芇底箕, 渃天雨鄧沒瓢𥪞沕.

“Khay sưa bàn gỗ Trắc để kề bên, nước thiên vũ đựng một bầu trong vắt.”

Trên bàn gỗ Trắc, khay làm bằng gỗ sưa (có vân) để kế bên, có nước mưa (nước thiên vũ) đựng trong bình trong vắt. Tức là trên bàn có đủ khay đựng ly và bình nước mưa trong vắt để uống.

衣家模從漸它應𢚸尼風景自然強稱眜.

“Ấy gia mô tùng tiệm đã ưng lòng, này phong cảnh tự nhiên càng xứng mắt.”

Ấy phép nhà, tùng tiện (làm tạm bợ, qua loa) nhưng đại khái đã vừa lòng ông, nơi những phong cảnh tự nhiên, càng nhìn càng vừa mắt. Ý nói cái thất nhỏ của ông toàn bộ là qua loa vậy thôi, nhưng phong cảnh đều từ tự nhiên, càng nhìn càng thấy đẹp, vừa mắt.

Hải Thuần Bảo Hải